|
Đầu tiên là nói về tư tưởng:
- Phải có hào khí, nghĩa là phải có quyết tâm luyện tập cho đến nơi đến chốn,
vững vàng, tin tưởng không vì lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ dở
.- Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bệnh mà mọi người gọi là hiểm nghèo,
phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bệnh do việc luyện tập Dịch Cân Kinh.
Tư thế
1) Lên không, xuống có: Trên phải không, dưới nên có. Đầu treo lơ lửng,
miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng thẳng, thắt lưng mềm dẻo, hai cánh
tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa ra phía sau xoè
ra như cái quạt. Trong khi vẫy, hậu môn phải thót, gót chân lưng, hậu môn phải
chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bám chặt như bám trên đất trơn. Đây là
những qui định cụ thể của các yêu cầu cơ bản khi tập luyện Dịch Cân Kinh.
Dựa theo yêu cầu này, khi tập vẫy tay thì từ cơ hoành trở lên phải giữ cho được
trống không, buông lỏng, thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý
vào việc luyện tập, xương cổ buông lỏng để có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm
giữ tự nhiên (không mím môi), ngực trên buông lỏng để phổi tự nhiên. Hai cánh
tay để tự nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải
giữ cho chắc đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân
bám sát mặt đất, gót chân để phẳng lên mặt đất, bắp chân trong trạng thái căng
thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ nhẩm câu: "lên có, xuống
không." Nghĩa là lấy sức vẫy tay về phía sau (lên), khi tay trả lại phía trước
là do quán tính, không dùng sức đưa tay ra phía trước (xuống).
2) Trên ba dưới bảy: Là phần trên để lỏng độ ba phần khí lực, phần dưới
lấy gân sức bảy phần khí lực. Vấn đề này quán triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
3) Mắt nhìn thẳng: Không nghĩ ngợi gì cả, miệng nhẩm đếm lần vẫy.
Các bước tập cụ thể như sau:
a) Đứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
b) Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xoè thẳng, lòng bàn tay quay
ra sau.
c) Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại, cố để lưng, đầu và miệng
bình thường.
d) Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất, bắp chân và đùi chân căng
thẳng.
e) Hai mắt chọn một điểm đằng xa làm mục tiêu để nhìn, không nghĩ ngợi lung
tung, luôn chú ý vào các ngón chân đang bám đất. Đùi vế bắp chân cứng. Thót hậu
môn thật chặt và nhẩm đếm.
f) Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi trả hai bàn tay lại phía trước, chú ý
để nó buông theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân
cứng lên, hậu môn vẫn thót và co lại không lơi lả.
g) Vẫy tay từ 200, 300, 400, 500, 600, 700 lần, dần dần tăng lên tới 1,800 lần
vẫy, (1,800 ước chừng 30 phút).
h) Phải có quyết tâm đềâu đặn tập trung vào sự luyện tập, không nôn nóng tập
nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất đạt. Nhưng cũng không tùy tiện bửa tập nhiều,
bửa ít hoặc nghỉ tập, vì như vậy sẽ làm mất lòng tin trong luyện tập, khó có
hiệu quả.
Bắt đầu tập luyện cũng không nên làm tổn thương các ngón chân (sau buổi tập vuốt
ve các ngón chân mỗi ngón 9 lần). Nôn nóng muốn khỏi bệnh này mà dùng nhiều sức
sẽ không đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới đúng cách,
mới kết quả tốt. nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán thì khí huyết
loạn xạ, và không chú ý đến "trên nặng, dưới nhẹ" là sai hỏng.
Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thường có trung tiện (đánh dắm), hắt hơi, và
hai chân nhức mỏi, toát mồ hơi, mặt nóng bừng... chỉ là hiện tượng bình thường
đừng lo ngại. Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên đẩy
mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với vũ trụ là
"thiên khinh địa trọng" (trên nhẹ dưới nặng), đấy là qui luật sinh hợp với vũ
trụ: Thiên khinh địa trọng.
Sở dĩ bệnh gan là do khí huyết tạng gan không tốt gây nên khí bị tích lũy làm
cho gan khó bài tiết, do đó ảnh hưởng đến ống mật và cả tì vị. Luyện Dịch Cân
Kinh có thể giải quyết được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là hiệu quả tốt.
Về bệnh mắt, luyện Dịch Cân Kinh là có thể khỏi chứng đau mắt đỏ với các chứng
đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí được cả chứng đục thủy tinh thể; trong
nội kinh có nói mắt nhờ huyết mà nhìn được, khi khí huyết không dẫn đến các bộ
phận của mắt, do vậy sinh ra các bệnh tật do mắt. Đôi mắt là bộ phận thị giác
cũng là bộ phận quan trọng của cơ thể.
Những phản ứng khi luyện Dịch Cân Kinh
Khi luyện tập, cơ thể sẽ có những phản ứng, nhưng tất cả đều là hiện tượng thải
bệnh, không nên lo nghĩ. Liệt kê 34 phản ứng thông thường và còn nhiều phản ứng
không kể hết được.
1) Đau buốt.
2) Tê dại.
3) Lạnh.
4) Nóng.
5) Đầy hơi.
6) Sưng.
7) Ngứa.
8) Ứa nước giải.
9) Ra mồ hơi.
10) Cảm giác như kiến bò.
11) Giật gân, giật thịt.
12) Đầu khớp xương có tiếng lục cục.
13) Cảm giác máu chảy dồn dập.
14) Lông tóc dựng đứng.
15) Âm nang to lên.
16) Lưng đau.
17) Máy mắt, mi giật.
18) Đầu nặng.
19) Hơi thở nhiều, thở dốc.
20) Nấc.
21) Trung tiện.
22) Gót chân nhức như mưng mủ.
23) Cầu trắng dưới lưỡi.
24) Đau mỏi toàn thân.
25) Da cứng, da dày rụng đi (chai chân).
26) Sắc mặt biến đi.
27) Huyết áp biến đổi.
28) Đại tiện ra máu.
29) Tiểu tiện nhiều.
30) Nôn, mửa, ho.
31) Bệnh từ trong da thịt bài tiết ra.
32) Trên đỉnh đầu mọc mụt.
33) Ngứa từng chỗ hay toàn thân.
34) Chảy máu cam.
Các phản ứng trên đây là do trọc khí bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ các thứ
ứ đọng gọi là bệnh tật. Khi có sự phản ứng là có sự xung đột giữa chánh khí và
tà khí, nếu ta vẫn tập luyện sẽ sản sinh các chất bồi bổ có lợi cho chánh khí.
Ta tập đúng cách và làm tăng sức đề kháng, nó đẩy cặn bã trong cơ, gan, thần
kinh và các tế bào khác mà mạch máu lưu thông bình thường không thải nổi. Như
luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa nổi cặn bã ra ngoài nên
sinh ra phản ứng. Vậy không nên lo sợ, cứ tiếp tục luyện tập như thường. Có một
phản ứng hiển nhiên là khỏi một căn bệnh, cứ tập luyện đều đặn sẽ đạt hiệu quả
tốt
Luyện Dịch Cân Kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau:
- Nội trung:
Tức là nâng cao khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ. Lưu thông khí huyết.
Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu
- Tứ trưởng tố:
Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc theo luyện tập. Tứ
trung tế song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí
dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh
- Ngũ tam phát:
Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn lúc bình thường. Đó
là Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu, Gio cung: huyệt ở hai bàn tay, Dũng tuyền:
huyệt ở hai gan bàn chân. Khi luyện tập, 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn
toàn thông suốt Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả, nó làm tăng cường
thân thể, tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.
- Lục phủ minh: Đó là
ruột non, ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng, tam tiêu sẽ thông suốt, nghĩa là
không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được
thuận lợi nếu không bị trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững
trạng thái bình thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh
vượng.
Một số điều cần lưu ý khi luyện tập
1) Số lần vẫy tay không dưới 800 lần. Từ 800 lần lên dần 1,800 lần (khoảng 30
phút) mới tới ngưỡng cửa của điều trị. Người bệnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay,
tuy nhiên phải nhớ thót hậu môn và bấm mười đầu ngón chân.
2) Số buổi tập: Sáng thành tâm tập mạnh - Trưa trước khi ăn tập vừa - Tối trước
khi ngủ tập nhẹ.
3) Có thể tập nhiều tùy theo bệnh trạng. Có bệnh nhân nâng số vẫy tay tới 5, 6
ngàn lần trong một buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại
tiện thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi luyện
tập là thích hợp.
4) Tốc độ vẫy tay. Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình thường thì vẫy 1,800 lần
hết 30 phút. Vẫy lúc sau hơi nhanh hơn lúc đầu một chút, khi đã thuần thì vẫy
hẹp vòng. Bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bệnh nặng thì nên
vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh mau
mệt, mà chậm quá thì khơng đạt tới mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu
thông.
5) Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít (nặng hay nhẹ): Vẫy tay là môn thể dục chữa
bệnh chứ không phải môn thể thao khích biệt. Đây là môn thể dục mềm dẻo, đặc
điểm của nó là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay nhẹ quá cũng không tốt,
bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực không chuyển động nhiều, tác dụng
sẽ giảm đi. Vẫy tay không chỉ có chuyển động cánh tay mà chính yếu là chuyển
động hai bắp vai. Bệnh phong thấp thì dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay chậm. Nói
tóm lại, phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các triệu chứng sau khi
nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể,
nhanh nhẹn, hồng hào, tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết
định cách cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho cảm thấy thoải mái, dễ
chịu là đúng và tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích (ích lợi cho cơ
thể), động tác mạnh là loại bỏ các chất cặn bã có hại cho cơ thể (tức bệnh tật).
Lý luận này đang được nghiên cứu.
6) Khi vẫy tay về phía sau dùng sức 7 phần, khi trả tay về phía trước thuộc về
quán tính còn chừng 5 phần.
7) Đếm số lần vẫy tay : Đếm không phải để nhớ mà có tác dụng làm cho đầu óc bình
tỉnh, có tác dụng tốt cho não được căng thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân
Âm được bồi dưỡng.
8) Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi đâu cũng tập
được, dĩ nhiên nơi nào có không khí trong lành và yên tỉnh vẫn tốt hơn.
9) Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim được thoải mái,
đầu óc được yên tỉnh để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý. Ta có thể làm những
động tác nhẹ nhàng thoải mái như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình
tỉnh vê 10 đầu ngón tay và 10 đấu ngón chân đủ 9 lần. Người không đủ bình tỉnh
nên cần chú ý đến điểm này.
10) Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và bụng nhẹ nhàng,
hơi thể điều hòa, mắt sáng, nước giải ứa ra nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ
tốt, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh
đúng phép. Sau khi tập, đại đa số thấy có phản ứng nhưng về hiệu quả thì rất
khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có thích hợp với người tập hay
không.
11) Khi tập cần chú ý đến các điểm sau đây: - Nửa thân trên buông lỏng (thượng
hư) - Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực) - Khi tay trả lại phía trước,
không dùng sức (nhẹ) - Tay vẫy về phía sau dùng sức (nặng, mạnh) - Mỗi lần tập
tăng dần số lần vẫy tay - Tâp ngày 3 buổi, kiên quyết tự chữa bệnh cho mình.
12) Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: Hết lòng tin tưởng,
kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhất định, tập thường xuyên thì hiệu quả rất
tốt. Nếu khi tập khi nghỉ, không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi
hoặc, bị động theo dư luận, thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định không
kết quả.
13) Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không? Có thể sinh bệnh do tư thế không đúng và
làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này cũng hạn hữu không tới 1%.
14) Khi tập phải tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa đông.
Tóm lại, cần lưu tâm vào những điều sau:
- Khi tập, luôn luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất.
- Thắt hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế "thượng thư hạ thực".
- Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1,800 lần mới có hiệu quả.
- Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần như cũ. Khi
hết phản ứng hãy tăng số lần vẫy tay lên.
- Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng, tập luyện tới cùng, chắc
chắn sẽ đẩy lùi các bệnh tật ta đang mắc phải.
- Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bệnh mà còn là một phương pháp
phòng bệnh rất hữu hiệu.
Ghi Chú
Tài liệu Dịch Cân Kinh này của cụ lương y TRẦN VĂN BÌNH, người đã phổ biến và
đưa tài liệu cho Phạm Viết Hồng Lam, 43 tuổi (Giảng viên Hội Họa trường Cao đẳng
Sư Phạm Nhạc Họa) để tự chữa khỏi bệnh.
Hồng Lam bị ung thư viêm họng ở giai đoạn II, lâm vào một tình thế bế tắc. Anh
đã được cụ Bình trao tập tài liệu luyện tập Dịch Cân Kinh này, và anh đã luyện
tập để tự chữa bệnh. Điều thần diệu đã đến, sau 3 tháng luyện tập, bệnh của anh
đã khỏi hẳn và sức khoẻ ngày một tăng không ngờ (Tài liệu được trao ngày
7/2/1989, anh tập đến tháng 5/1989 thì hết bệnh).
Sau khi hết bệnh, anh Hồng Lam kể lại quá trình luyện tập chữa bệnh của mình cho
bạn bè thân thuộc nghe, đồng thời anh cũng giới thiệu tập tài liệu này trên báo
Hà-Nội Mới để chứng minh cho điều mình đã kể cũng như để cho đồng bào cả nước
cùng biết. Tài liệu này đã trích lại từ tờ báo đó.
Bài này được đăng trên nhật báo Người Việt (USA) lần đầu vào ngày 17 tháng 11
năm 2000. Tiếp theo, trên số báo ngày 24 tháng 2, 2001 cũng đăng thêm bài "Kinh
nghiệm tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh". Bài cũng được đăng trên trang nhà Viet-nam.org
dưới dạng phông chữ động (dynamic font).

Print
 |