Tên thường gọi: Sơn hoàng cúc, Dị mào.
Tên khoa học: Anisopappus chinensis (L.) Hook. et Aru.
Họ khoa học: thuộc họ Cúc - Asteraceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Sơn hoàng cúc, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ....)

Cây thảo mọc hàng năm, cứng, cao 10-40cm, thân lá có lông nhám nhám, ngắn, quăn. Lá mọc so le; phiến lá bầu dục, dài 3-6cm, gân chính 3, mép có răng to, thưa; cuống 5-8mm. Cụm hoa hình rổ gần tròn; bao chung do nhiều hàng lá bắc có lông quăn; giữa hoa có vẩy; hoa ở mép hình mũi có 4 răng, màu vàng; hoa ở giữa hình ống cao 5mm. Quả bế có lông tơ xen với 5 vẩy.
Ra hoa vào mùa thu và mùa đông.
Bộ phận dùng: Hoa - Flos Anisopappi.
Loài
phân bố ở Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc từ
Lạng Sơn, Hà Tây đến các tỉnh Tây Nguyên trên đất trồng, có
cát, trên đất đồi núi. Thu hái hoa vào mùa thu, rửa sạch,
phơi khô, cất dành.
(Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng ....)
Vị đắng, tính mát, có ít độc; có tác dụng hạ khí hành thuỷ, tiêu đàm.
Ở Trung Quốc, cây được dùng chữa 1. Cảm mạo, đau đầu; 2. Viêm khí quản mạn tính. Liều dùng 5-10g, dạng thuốc sắc.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|
|
|
|