Đông y chữa bệnh Prolactin cao
Chế độ ăn uống khi bị prolactin cao
Tôi bị prolactin cao, uống thuốc 2 tháng có tin vui
Cường prolactin máu là bệnh lý nội tiết thường gặp do rối loạn trục dưới đồi-tuyến yên. Bệnh cũng có thể gặp ở nam giới, nhưng thường thấy ở nữ. Đây là một trong số những nguyên nhân thường thấy gây nên vô sinh ở nữ giới. Khi prolactin tăng cao (≥25 ng/mL) thì sẽ xuất hiện các triệu chứng như : bế kinh, đột nhiên có sữa, không rụng trứng và không thể mang thai,.. . Những năm gần đây, tần suất xuất hiện của bệnh này ngày một tăng cao do các yếu tố về môi trường, xã hội ngày càng không được đảm bảo
Prolactin được tiết ra từ các tế bào lactotroph ở thùy trước tuyến yên. Sự chế tiết prolactin được điều hòa bởi vùng dưới đồi. Khác hẳn các hormones của thùy trước tuyến yên, vùng dưới đồi chủ yếu là ức chế cường tính (tonic inhibition).
Vùng dưới đồi tiết ra cả PIF (prolactin-release-inhibiting factor) và PRF (prolactin-releasing factor).
Các PIF là dopamine và một số chất “không catecholamine” (non-catecholamine) và GABA (gamma-aminobutyric acid).
Các PRF là TRH (thyrotropin-releasing hormone), các VIP (vasoactive intestinal peptides), oxytoxin, galanin và PHM-27.
Có ba nhóm nguyên nhân gây cường prolactin máu:
+ U tuyến yên có 2 dạng microadenoma (nhỏ hơn 10mm) và macroadenoma (lớn hơn 10 mm). Trong adenoma tuyến yên, u tiết prolactin hay gặp nhất, chiếm hơn 30% trường hợp cường prolactin máu. Các u tuyến yên có thể chèn ép, ngăn cản dopamine từ vùng dưới đồi xuống, thiếu tác dụng “cản tiết”, stalk effect, của dopamine cường prolactin máu xảy ra. Ngược là, 25% các u tuyến yên tiết GH có thể làm tăng tiết prolactin.
+ Suy tuyến giáp
+ Macroprolactinemia, đây là dạng polymer của nhiều phân tử prolactin. Các polymer này thường gắn với IgG và không có khả năng gắn kết với các thụ thể prolactin, nhưng cũng có ít tác dụng của prolactin.
+ Bệnh tự miễn của tuyến yên (autoimmune condition of the pituitary), gây tẩm nhuận lympho bào cũng có thể gây cường prolactin máu. Tiêu biểu của dạng này là viêm tuyến yên lympho bào (lymphocytic hypophysitis) ở phụ nữ tuổi sinh đẻ.
+ Công năng gan và thận bị suy giảm
+ Buồng trứng đa nang
+ kích thích núm vú, xoa nắn vùng ngực, phẫu thuật ngực vú, mặc áo ngực chật quá..
+ vận động thể dục, ngủ quá nhiều.
+ stress
+ thuốc chống trầm cảm, thuốc tâm thần (anti-psychotics)
+ thuốc huyết áp
+ thuốc cây cỏ (herbs): fenugreek, fennel seeds, red clover.
Có đến 1/3 số trường hợp cường prolactin máu không tìm ra nguyên nhân
Có 4 cơ chế gây rối loạn chế tiết prolactin:
Nhiều bệnh lý của vùng dưới đồi như các loại u bướu, bất thường động- tĩnh mạch (arterio-venous malformations), các quá trình viêm sẽ hoặc làm giảm tổng hợp hoặc giảm tiết dopamine. Một số thuốc, như alpha-methyl dopa và reserpine, có khả năng làm cạn kiệt các kho dự trữ dopamine ở trung ương.
U tuyến yên hoặc cuống tuyến sẽ cản trở tuần hoàn từ dưới đồi xuống tế bào lactotroph, gây thiếu dopamine.
Các thụ thể (receptor) ở tế bào lactotroph giảm nhạy cảm với dopamine. Nhiều loại dược phẩm đóng vai chất ức chế thụ thể dopamine (dopamine-receptor-blocking agents), như phenothiazine (chlorpromazine), benzamides (metoclopramide, sulpiride và domperidol) và butyrophenones (haloperidol). Các thuốc này ức chế tác dụng của dopamine nội sinh và làm mất tác dụng ức chế của vùng dưới đồi với các tế bào lactotroph. Kết cuối cùng là prolactin máu tăng lên.
+ Suy giáp có thể đi kèm với cường dopamine. Suy giáp làm tăng tổng hợp TRH. Sau đó TRH, có thể tác dụng như PRF, sẽ làm tăng prolactin máu.
+Estrogens tác dụng trực tiếp ở mức tuyến yên, kích thích các tế bào lactotroph gây tăng tiết prolactin. Estrogens cũng làm tăng sự phân bào của các lactotroph, làm gia tăng số lượng tế bào này.
+Tổn thương thành lồng ngực cũng có thể làm cường prolactin, cơ chế tương tự kích thích như mẹ cho con bú.
+ Tiết sữa (galactorrhea) với tần suất từ 30 đến 80%, tuy nhiên cũng có bệnh nhân có prolactin máu rất cao (trên 100ng/mL (2000mU/L), bình thường nồng độ prolactin máu dưới 18ng/mL(360mU/L) ) nhưng lại không bị tiết sữa.
+ Rối loạn kinh nguyệt, các rối loạn thường xuất hiện khi nồng độ prolactin cao, những rối loạn gồm: không có kinh , có kinh ít, thống kinh và vô sinh.
+ Giảm nồng độ estrogen máu, khô âm đạo, giảm libido, loãng xương…
+ Ở nam giới có thể thấy vú lớn, giảm libido, rối loạn cương dương.
Mức độ prolactin trong máu người khỏe mạnh bình thường: phụ nữ không mang thai và đàn ông khỏe mạnh bình thường là như sau:
Ở phụ nữ trưởng thành khỏe mạnh bình thường, không có thai, mức độ prolactin trong máu là 127-637 µU/mL,
Ở phụ nữ có thai là 200 – 4500 µU/mL
Ở phụ nữ mãn kinh là 30-430 µU/mL
Ở nam giới bình thường là 98 – 456 µU/mL.
Mức độ prolactin máu thay đổi rõ rệt trong một ngày, tăng dần trong khi ngủ và đạt đỉnh cao nhất vào buổi sáng. Prolactin trong máu có thời gian bán hủy sinh học chỉ là khoảng 20-30 phút. Vì vậy, thời điểm lấy máu để xét nghiệm prolactin tốt nhất là khoảng 3-4 giờ sau khi thức dậy.
Đối với đông y, chứng prolactin tăng cao có quan hệ mật thiết với 3 tạng: can, tỳ, thận. Đông y cho rằng, thân là gốc của tiên thiên, chủ cốt sinh tủy và quản lý bộ phận sinh dục và sinh sản. Can thận đồng nguyên, thận tinh mà thiếu hụt tất can mộc không được nuôi dưỡng dẫn đến công năng sơ tiết của can gặp trở ngại. Do đó mà khí huyết trong cơ thể không được đầy đủ và điều hòa gây nên can khí thượng sung, khí huyết nghịch loạn không tuần hoàn như bình thường. Can mà uất lâu ngày hóa hỏa gây can kinh uất nhiệt,can hỏa thượng sung,can khi đi lên nhập vào vùng ngực mà tự nhiên tiết sữa. Tỳ hư thất vận, thủy thấp tích tụ, trở trệ bào mạch, khí huyết thất hòa, huyết không chảy xuống bào cung mà lại ngược lên mà sinh ra sữa. Cho nên 3 công năng thất điều của 3 tạng can tỳ thận ảnh hưởng đến khí huyết không điều hòa.
Prolactin cao kèm chảy sữa, bế kinh hoặc kinh nguyệt không đều, vô sinh, bạch đới hoặc lượng kinh giảm ít, ngực sườn đẩy tức. Trước hành kinh ngực đau tức, miệng khô tâm phiền, rêu lưỡi trắng mỏng mạch tế huyền.
Sơ can lý khí, hoạt huyết điều kinh
Dùng bài Prolactin cao Can uất
| Prolactin cao Can uất | Sài hồ | 15 | Qui đầu | 15 | Bạch thược | 16 | |
| Sinh Mạch nha | 90 | Hương phụ chế | 10 | Sao Quyết minh tử | 20 | Kê huyết đằng | 20 |
| Đan sâm | 15 | Phục linh | 20 | Táo nhân sao | 15 | Ngưu tất | 18 |
| Đẳng sâm | 20 | ||||||
Prolactin tăng cao, chảy sữa, vô kinh hoặc kỳ kinh dài bất thường, vô sinh, bạch đới, ham muốn giảm, khả năng ghi nhớ giảm, chân tay lạnh trước khi hành kinh thì phiền táo dễ cáu giận, mạch trầm tế hoặc tế huyền
Bổ thận sơ can
Dùng bài Prolactin cao dương hư can uất
Prolactin cao dương hư can uất |
Sinh Mạch nha | 100 | Ba kích thiên | 15 | Nhục thung dung | 15 | |
| Tam lăng | 10 | Nga truật | 10 | Đẳng sâm | 20 | Sài hồ | 15 |
| Hương phụ | 10 | Bạch truật | 12 | ||||
Prolactin tăng cao, tràn sữa bế kinh hoặc kinh nguyệt lượng ít, bạch đới ít, tai ù, đầu quay, lưng gối mềm yếu, lòng bàn chân lòng bàn tay nóng, phiền táo dễ nóng, ngủ kém, lưỡi đỏ, rêu trắng mỏng, mạch nhanh mà tế.
Tư âm sơ can, dưỡng huyết thông kinh
Prolactin cao âm hư can uất
| Prolactin cao âm hư can uất | Sài hồ | 15 | Lộc giác | 10 | Bạch thược | 12 | |
| Cẩu tích | 12 | Thục địa hoàng | 20 | Táo nhân | 15 | Hoài sơn | 15 |
| Đan bì | 12 | Địa cốt bì | 12 | Nữ Trinh tử | 25 | Hạn niên thảo | 20 |
| Qui bản | 15 | Sinh Mạch nha | 60 | Chi tử | 9 | ||
Prolactin tăng cao, tràn sữa, bế kinh, kinh nguyệt ít thấy, thể chất béo, phản ứng chậm chạp, bạch đới, vô sinh, đại tiện lỏng , tiểu tiện trọng dài, rêu lưỡi trắng nhầy, chất lưỡi đạm, mạch trầm hoạt hoặc nhu hoãn
Ôn thận kiện tỳ, táo thấp hóa đàm
Dùng bài Prolactin cao đàm thấp
| Prolactin cao Đàm thấp | Sinh Mạch nha | 100 | Ba kích | 15 | Dâm hương hoắc | 12 | |
| Nhục thung dung | 15 | Tam Lăng | 10 | Nga truật | 10 | Đẳng sâm | 20 |
| Trần bì | 6 | Khương Bán hạ | 6 | Phục linh | 20 | Sao Bạch giới tử | 15 |
| Côn bố | 10 | Hải tảo | 10 | Tạo giác thích | 12 | ||
Prolactin tăng cao, tràn sữa, bế kinh, vô sinh, kinh nguyệt dài, lượng ít, kèm hòn cục. Lúc hành kinh hay đau bụng, đại tiện lỏng. Chất lưỡi tối tím hoặc hai bên có điểm ứ, rêu trắng mỏng, mach tế sác.
Kiện tỳ hóa thấp
Dùng bài Prolactin cao tỳ hư huyết trệ.
Nguyễn Hữu Toàn – Thaythuoccuaban.com
| Prolactin cao tỳ hư huyết trệ | Đẳng sâm | 20 | Sao Bạch truật | 15 | Phục linh | 20 | |
| Sinh Cam thảo | 10 | Đan sâm | 20 | Qui đầu | 15 | Bạch thược | 12 |
| Xuyên khung | 12 | Kê huyết đằng | 25 | Ngưu tất | 15 | Đào nhân | 10 |
| Hồng hoa | 10 | ||||||
Theo giáo sư Ngô Tân Hoa - Học viện trung y dược sơn đông
Trong đông y không có ghi chép chứng prolactin cao, nhưng dựa vào các triệu chứng thì thuộc phạm vi bế kinh, đột nhiên có sữa, kinh nguyệt không ổn định. Với hơn 30 năm lâm sàng, giáo sư có kinh nghiệm phong phú và thu lại được hiệu quả điều trị cao. Kinh nghiệm trị liêu như sau:
Các bệnh nhân có prolactin cao thường có chứng bế kinh, vô sinh, trước kỳ kinh thì đầu vú đau tức, tiết sữa, trong lòng buồn bực dễ cáu, đầu đau,…. Trung y biện chứng thuộc thận hư , can uất. Đông y cho rằng thận chủ sinh dục và kinh nguyệt, sinh đẻ. Can thì chủ sơ tiết, phân bố ở vùng ngực sườn, can mạch đi qua đầu vú ngoài ra tuyến vú cũng là do can điều tiết. Mà can thận đồng nguyên, tinh huyết tương sinh, can uất làm cho thận âm bị tiêu hao, thận dương hao tổn. Thận mà hư thì thủy không nuôi được mộc, can huyết không đủ, can hỏa thượng viêm. Hai nguyên nhân can uất và thận hư kèm theo nhau mà ảnh hưởng. Can mà thất điều thì thận cũng không kiên cố, khai hợp thất thường thì xuất hiện đột nhiên có sữa, bế kinh,….Trên lâm sàng biện chứng do can uất làm chủ có kèm thận hư hoặc can kinh uất nhiệt
Lấy thư can lý khí làm chủ , kèm dùng với thanh nhiệt tư âm.
Sài hồ sơ can tán, đan chi tiêu dao tán, lục vị địa hoàng hoàn gia giảm. Giáo sư ngô thường dùng:
| Sài hồ | 9 | Bạch thược | 12 | Qui đầu | 9 | ||
| Phục linh | 12 | Thanh bì | 12 | Tiêu Bạch truật | 12 | Mạch nha | 60 |
| Mẫu Đan bì | 9 | Hương phụ | 12 | Sơn thù | 9 | Sinh Cam thảo | 6 |
Phương dùng sài hồ thuận kỳ điều đạt, sơ can giải uất, dĩ khĩ trị huyết. bạch thược bình can thư can. Đương quy phối bạch thược để dưỡng huyết thư can. Mẫu đan bì thanh nhiệt trừ phiền phối hợp với thanh bì phục linh và tiêu bach truật để hành tỳ khí. Sơn thù du tư bổ thận âm. Hương phụ sơ can giải uất. Trong phương trọng dụng mạch nha. Tuy mạch nha là thuốc của tỳ vị nhưng thực chất là để sơ can khí, phối hợp với sài hồ để tăng cường lực sơ can giải uất. Trong sách “ điền nam bản thảo “ có nói, mạch nha có thể khoan trung hạ khí, chỉ nôn, đối với phụ nữ tiết sữa không cầm thì cũng rất hiệu quả.
Phương: Nhị tiên mạch nha thang
| Tiên linh tỳ | 15 | Tiên Mao | 15 | Sinh Mạch nha | 60 | ||
| Sao Mạch nha | 60 | Chiết Bối mẫu | 15 | Bạch giới tử | 10 | Cương tằm | 15 |
| Xuyên sơn giáp | 10 | Thanh bì | 10 | Trần bì | 10 | Xương truật | 10 |
| Bạch chỉ | 15 | ||||||
Sắc ngày 2 lần. Trị liệu 20 trường hợp , hiệu quả đạt 99,5%
Ông thường dùng “ cam mạch tiêu nhũ thang” .Trị liệu 62 trường hợp, 26 khỏi, có hiệu quả tốt 28 trường hợp, không hiệu quả 8 trường hợp.
| Cam thảo | Táo | Chỉ Tích | |||||
| Thần khúc | Phục thần | ||||||
Cam thảo, đại táo, sài hồ, chỉ tích, thần khúc, phục linh, uất kim mỗi loại 15g, tiểu mạch và sinh mạch nha mỗi loại 100g, hàng thược dược 30g, đương quy 12g, đảm nam tinh 6g,
Ông cho rằng prolactin cao quan hệ chặt chẽ đến can khí uất trệ bất luận là tỳ hư hay thân hư đều ảnh hưởng công năng sơ tiết của can. Vì vậy ông dùng pháp sơ can kiện tỳ, phương dược dùng “ gia vị tiêu dao tán “
Đương quy 12g, bach thược 20g, sài hồ 10g, phục linh 15g, sao bạch truật 10g, trần bì 12g, bán hạ 9g, trạch lan 12g, câu kỷ tử 12g, thỏ ty tử 15g, tục đoạn 18g, sao thần khúc 12g, hương phụ 16g, tử thạch anh 60g ( sắc trước ) , tiên linh tỳ 18g, đan bì 12g, hoàng linh 9g, mạch nha 60g, ngưu tất 18g, chích cam thảo 6g,
Ông cho rằng prolactin cao là do độc tố nội sinh là chủ yếu. Độc tố nội sinh tồn tại trong cơ thể, có thể làm nhiễu loạn sự vận hành bình thường của tạng phủ khí huyêt âm dương dẫn đến công năng của tạng phủ bị đảo lộn và làm cho bệnh tình trầm trọng.
Kinh nghiệm trị liệu
Chọn các vị thuốc hướng lên và đi vào 2 bên sườn. Thường dùng dã cúc hoa, kim ngân hoa, liên tử tâm, hạ khô thảo, cúc hoa, sinh cam thảo để thanh thượng tiêu độc nhiệt. Cát cánh, hạnh nhân, uất kim, sinh bối mẫu , triết bối mẫu, ty qua lạc để điều lý khí cơ. Xuyên hoàng bá, trạch tả để tả tướng hỏa. Để ôn ấm thận kinh thì dùng đỗ trọng, tục đoạn thỏ ty tử .
Ông cho rằng vùng vú và đại trường đều là thuộc kinh dương minh vị, vú mà có bệnh thì trị tại kinh dương minh, đồng thời thanh nhiệt độc.
Thường dùng: hòe hoa, bạch đầu ông, đi ở kinh dương minh vị giúp thanh dương minh nhiệt độc. Thường nên chú ý đến biến hóa của đại tiện, quan sát có hay không có bệnh ở kinh dương minh để kết hợp với qua lâu cam hàn nhuận đạo đàm trọc hạ hành. Bên trên thì thanh phế vị nhiệt mà đạo trệ, hạ nhuận đại trường để thông tiện. Hợp với lợi khí khoan sung, tán kết tiêu thũng.
Sài tùng nham cho rằng, sữa là do huyết mà hóa thành. Khởi nguồn ở trung tiêu, lưu chú ở can do can sơ tiết. Có thể thấy prolactin tăng thường kèm bế kinh- có quan hệ mật thiết với sơ tiết của can. Nên trong chứng prolactin cao, ông hay dùng phép thông có ý nghĩa thông vùng vú nhưng đồng thời cũng bao gồm hành khí và hạ khí, hóa đàm và lợi thủy, hoạt huyết và thông lạc. Làm cho tiêu trừ tà khí.
Thường dùng dược :toàn qua lâu, ty qua lạc , thông thảo, sinh mạch nha, đan sâm, đào nhân, nguyệt lý hoa,…
Ông cho rằng prolactin tăng cao là còn do tại túc quyết âm can kinh và đốc mạch. Nên lúc trị liệu nên dùng: cát căn, cát cánh và xuyên khung để dẫn dược vào 2 kinh này, lại có tác dụng hành khí hóa huyết trệ. Cát căn nhập vào dương minh còn có thể giải được dương minh uất hóa, xuyên khung khí thơm thăng tán hợp vs sơ thông có thể dẫn đến vùng vú.
Đông y cho rằng vú thuộc kinh túc dương minh vị, đầu vú thuốc kinh túc quyết âm can. sữa và kinh huyết đều do khí huyết mà hóa ra, đều có nguồn từ tỳ vị, bình thường sự chuyển hóa đều phụ thuộc vào sự sơ tiết của can, thận chủ sinh dục là gốc của kinh nguyệt. Do đó chứng PRL chủ yếu liên quan đến 3 tạng thận, can, tỳ. Nguyên nhân có thể do thất tình nội thương, ăn uống không điều tiết, mệt mỏi quá độ, tổn thương thận khí, tỳ vị, can khí không thể sơ tiết, uất thì hóa hỏa, phạm đến thận âm, hao tổn thận dương, thủy không nuôi dưỡng mộc khiến can uất hỏa vượng.
Trong điều trị tùy nguyên nhân mà biện chứng nhưng cơ bản phân theo do can uất, thận hư, tỳ hư, đàm, ứ.
- Họ Hà đối với can thận khuy tổn chủ yếu dùng phép ích thận sơ can, dưỡng huyết điều kinh, dùng thục địa, sơn dược, sài hồ, uất kim, hương phụ. Tỳ thận bất túc, khí huyết lưỡng hư dùng kiện tỳ bổ thận, điều bổ khí huyết dùng đẳng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Hoài sơn, lộc giác phiến. Âm hư hỏa vượng, khí huyết bất túc dùng điều âm thanh can, ích khí dưỡng huyết, dùng thục địa, Hoài sơn, sơn thù, đan bì, đan sâm.
- Họ Lung phân thành thận hư và can uất thận hư để điều trị, thận hư dùng phép bổ thận, bài thuốc dùng ngữ tử bổ thận pháp gia giảm. như gia thêm lộc giác phiến, tiên linh tỳ, nhục quế, trạch lan. thận hư can uất dùng sơ can thận điều kinh pháp, phương dùng tiêu dao tán hợp nhị chí hoàn gia giảm, gia thêm đan bì, trạch lan, hương phụ, đổng tật lê, lộc giác phiến.
- Họ Trầncho rằng can thận khuy hư thời kỳ sớm, can khí thượng nghịch, dùng phương tự nghĩ ra hồi nhũ phục kinh thang, dùng mạch nha, sài hồ, bát nguyệt trát, đương quy, hồng hoa, ngưu tất, diệp hạ hồng. thời kỳ sau kinh khuy huyết thiểu dùng tả quy ẩm, nếu khí huyết nghịch loạn dùng khai uất chủng ngọc thang gia uất kim, lộ lộ thông, diệp hạ hồng, bát nguyệt trát, điều trị 2-5 tháng.
- Họ Thang điều trị phân thể can thận âm hư, dương minh táo nhiệt, điều trị lấy tư âm nhuận táo, thanh nhiệt điều kinh, dùng phương tự nghĩ qua thạch lục vị thang, gồm: địa hoàng, sơn thù, kỷ tử, mạch đông, thạch hộc, qua lâu, đan bì, đan sâm, ngưu tất, cù mạch, ích mẫu thảo, mạch nha, can tỳ bất điều, khí trệ huyết ứ điều trị dùng sơ can giải uất, kiện tỳ dưỡng huyết điều kinh, dùng khai uất chủng ngọc thang hợp tiêu dao tán gia giảm. tỳ thận lưỡng hư, khí huyết bát túc dùng ích khí dưỡng huyết, bổ thận điền tinh, dùng bát trân thang hợp tả quy hoàn gia giảm.
- Họ Tôn dựa vào thể can uất khí trệ dùng sơ can lý khí, hoạt huyết điều kinh, dùng sài hồ, đương quy, bạch thược, Xuyên khung, Bạch truật, Bạch linh, Ngưu tất, Kê huyết đằng, Sơn tra, Mạch nha, Cam thảo, thể thận dương hư can uất dùng bổ thận sơ can, Vị thuốc: Sài hồ, Bạch thược, Chỉ sác, Cam thảo, Đương qui, tiên mao, tiên linh tỳ, lộc giác giao, Ba kích thiên, Thỏ ti tử, đạm đại vận, thể thận âm hư dùng tư âm sơ can, dưỡng huyết điều kinh, Vị thuốc: Sài hồ, Bạch thược, Chỉ sác, Cam thảo, Sơn tra, Thục địa, táo bì, Hoài sơn, Đan bì, Địa cốt bì, nữ trinh tử, hạn liên thảo, quy bản. thể tỳ thận dương hư đàm thấp trở trệ dùng ôn thận kiện tỳ, táo thấp hóa đàm, Vị thuốc: Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Trần bì, Bán hạ, thương truật, hương phụ, thanh dương sâm, thạch xương bồ, Mộc hương, Sa nhân, Thỏ ti tử, Phá cố chỉ, lộc giác sương, thể tỳ hư huyết ứ dùng kiện tỳ hóa ứ, Vị thuốc: Đẳng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, đan sâm, Đương qui, Bạch thược, Xuyên khung, kê huyết đằng, Ngưu tất, quyển bá. Dùng 60 ngày 1 liệu trình, dùng 3 liệu trình.
- Truyền phương điều trị: Họ Trác tự nghĩ sơ can hoạt huyết phương là phương cơ bản, Vị thuốc: Sài hồ, Uất kim, Xuyên khung, Đương qui, Bạch thược, nguyệt lý hoa, Kê huyết đằng, Mạch nha sao. Khí hư thêm Đẳng sâm, Hoàng kỳ, tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh, thận âm hư thêm Sinh địa, nữ trinh tử, hạn liên thảo, Qui bản, thận dương hư thêm tiên linh tỳ, Thỏ ti tử, Ba kích thiên.
Là các chọn lựa đầu tiên với tất cả trường hợp cường prolactin máu. Thuốc chủ yếu là các chất đồng vận dopamine (dopamine agonist drugs) như:
+ Bromocriptine
+ Cabergoline
+ Pergolide
Đối với các trường hợp vô sinh do prolactin cao, tây thường sử dụng các thuốc làm kiềm chế prolactin tăng cao, từ đó cho trứng có thể và có thể mang thai tự nhiên. Nhưng phương pháp này giá thành khá cao và kèm đó có nhiều tác dụng không mong muốn của thuốc.
Đối với prolactin cao do u tuyến yên thường được áp dụng sau khi điều trị nội khoa thất bại, kỹ thuật phẫu thuật là qua xương bướm (trans-sphenoidal surgery).
Prolactin (viết tắt là PRL), là một là hormone peptide, được mã hóa bởi gen prolactin (PRL gene).Prolactin có vai trò kích thích các tuyến sữa sản xuất sữa, đồng thời cũng tác động lên nhiều chức năng khác của tế bào. Prolactin được tiết ra từ thùy trước tuyến yên trong sự đáp ứng với sự ăn uống, giao phối, điều trị với estrogen, trong sự rụng trứng và cho con bú. Bình thường, ở phụ nữ không mang thai, chỉ số prolactin thấp, nó chỉ cao trong thời gian thai kì và sinh con. Khi chỉ số prolactin tăng, chị em có thể thấy các triệu chứng như: giảm estrogen máu (hypoestrogenism), vô sinh do không rụng trứng (anovulatory), ít kinh nguyệt (oligomenorrhoea), vô kinh, tiết sữa bất ngờ và mất ham muốn tình dục; rối loạn ăn uống, suy giáp...
Hàm lượng prolactin tăng cao trong máu có thể là một nguyên nhân khiến phụ nữ bị vô sinh,có thể ngăn rụng trứng ở phụ nữ. Khi điều này xảy ra, chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ sẽ bị ngừng hẳn lại (tắt kinh) và họ sẽ mất khả năng có con. Ở một mức độ nhẹ hơn, người bị chỉ số prolactin cao vẫn có kinh nguyệt bình thường, vẫn rụng trứng nhưng không sản xuất đủ hormone progesterone sau khi rụng trứng, khiến trứng thụ tinh không thể làm tổ, dẫn đến vô sinh ở nữ giới.
|