Trương-Chí-Thông, khi chú gia?i ‘Linh Khu’, đã gia?i thích rằng: ‘Kinh Thu? Thái Âm chủ về khí bất cập cu?a Kim Khí mùa Thu, vì vậy gọi huyệt này là Thiếu Thương (P.11) ’.
Quỷ Tín (Thiên).
Thiên ‘Bản Du’ (L.Khu 2).
+ Huyệt thứ 11 của kinh Phế.
+ Huyệt Tỉnh của kinh Phế, thuộc hành Mộc.
+ 1 trong ‘Thập Tam Quy? Huyệt’ với tên gọi là Quy? Tín.
+ Là huyệt cổ điển trị tai ù do Tông khí hư (thiên ‘Khẩu Vấn’ - L.Khu 28).
+ Huyệt quan trọng để phát hãn.
Tại bờ ngoài ngón
tay cái, cách góc móng tay 0, 1 thốn về phía tay quay. Hoặc
huyệt nằm ở nơi gặp nhau tiếp giáp da gan - mu tay và đường
ngang qua góc chân móng ngón tay cái.
Dưới da là xương, huyệt ở dưới chỗ bám của gân cơ duỗi dài ngón tay cái. Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh quay.
Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C6.
Sơ tiết hỏa xung nghịch của 12 kinh khí, thanh Phế nghịch, thông kinh khí, thông lợi vùng họng.
Trị sốt, amydale viêm, trúng gió, hôn mê, động kinh, khó thở.
Châm thẳng 0, 1 - 0, 2 thốn hoặc châm xiên hoặc dùng kim tam lăng châm nặn ra máu.
(Đàn bà có thai cần cẩn thận khi cứu.
(Trị mắt đỏ, họng đau nên châm nặn ra máu.
(Trị chứng tâm thần phân liệt nên ôn cứu hơn châm.
(Thiên ‘Nhiệt Bệnh’ ghi: “Nhiệt bệnh trong 7 ngày, 8 ngày, mạch Mạch khẩu đóng, suyễn và hơi thở ngắn, nên châm ngay, tức thì mồ hôi sẽ tự ra, châm cạn huyệt nằm ở trong khoảng ngón tay cái [huyệt Thiếu Thương (P.11) ] (LKhu 23, 10).
(Thiên ‘Khẩu Vấn’ ghi: “Chứng tai ù, bổ huyệt Khách Chủ Nhân + huyệt nằm ở đầu ngón tay cái giáp thịt gần móng tay [huyệt Thiếu Thương (P.11) ] ” (LKhu 28, 46).
(“Thiên ‘Mậu Thích Luận’ ghi: “Tà khách ở lạc của thủ Dương minh làm cho người ta bị khí đầy tức ở ngực, suyễn, thở gấp, hông sườn tức, giữa ngực nóng, châm ở gốc móng ngón tay trỏ (Thương Dương) và ngón cái (Thiếu Thương), cách khoảng 1 lá hẹ. Đau bên phải châm bên trái, đau bên trái châm bên phải. Trong khoảng thời gian ăn xong bữa thì khỏi bệnh” (TVấn 63, 12).
|