Mạch khí của kinh Thận khi đến huyệt
Thái Khê thì đi thẳng lên rồi quay trở về phía sau mắt cá
chân trong 2 thốn và lưu ở đấy, vì vậy gọi là Phục Lưu (Trung
Y Cương Mục).
Tên Khác:
Ngoại Du, Ngoại Mạng, Ngoại Mệnh, Phục
Bạch, Xương Dương.
Xuất Xứ:
Thiên ‘Bản Du’ (LK2).
Đặc Tính:
+ Huyệt thứ 7 của kinh Thận.
+ Huyệt Kinh, thuộc hành Kim, huyệt Bổ.
Vị Trí:
Giữa mắt cá chân trong và gân gót (huyệt
Thái Khê (Th.3) đo thẳng lên 2 thốn, trong khe của mặt trước
gân gót chân và cơ gấp dài riêng ngón cái.
Giải Phẫu:
Dưới da là khe giữa bờ trên gót chân, mặt
sau cơ gấp dài ngón chân cái, mặt sau đầu dưới xương chầy.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của
dây thần kinh chầy sau.
Da vùng huyệt chi phối bởi
tiết đoạn thần kinh L4.
(Thiên ‘Tạp Bệnh’ ghi: “Cổ họng khô,
trong miệng nóng như có keo, thủ kinh túc Thiếu âm [huyệt Bổ
của kinh Túc Thiếu Âm - Phục Lưu] (LKhu.26, 5).
(Thiên ‘Khẩu Vấn’ ghi:
“...Nếu trong Vị bị nhiệt thì trùng bị động, trùng động thì
Vị bị hoãn, Vị bị hoãn thì huyệt Liêm Tuyền khai, vì thế
nước dãi bị chảy ra, châm bổ kinh túc Thiếu Âm [Phục Lưu]
(LKhu.28, 26).