Huyệt ở vùng hổ
khẩu, có hình dạng giống như chỗ gặp nhau (hợp) của miệng
hang (cốc), vì vậy gọi là Hợp Cốc, Hổ Khẩu.
Tên Khác:
Hổ Khẩu.
Xuất Xứ:
Thiên ‘Bản Du’
(LKhu.2).
Đặc Tính:
+ Huyệt thứ 4 của
kinh Đại Trường.
+ Nguyên huyệt,
huyệt hấp thu, châm trong rối loạn mạch Lạc Đại Trường, rối
loạn Kinh Cân Đại Trường (khi đau và co thắt).
+ 1 trong Lục
Tổng Huyệt trị vùng mắt, đầu, miệng.
Vị Trí:
(a) Ở bờ ngoài,
giữa xương bàn ngón
2.
(b) Khép ngón trỏ
và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón
trỏ ngón cái.
(c) Ngón tay cái
và ngón tay trỏ xòe rộng, lấy nếp gấp giữa đốt 1 và đốt 2
của ngón tay cái bên kia để vào chỗ da nối ngón trỏ và ngón
cái (hổ khẩu tay này, đặt áp đầu ngón cái lên mu bàn tay
giữa 2 xương bàn 1 và 2), đầu ngón tay ở đâu, nơi đó là
huyệt, ấn vào có cảm giác ê tức.
Giải Phẫu:
Dưới da là cơ
gian cốt mu tay, bờ trên cơ khép ngón tay cái, bờ trong gân
cơ duỗi dài ngón tay cái.
Thần kinh vận
động cơ là các nhánh của dây thần kinh trụ và dây thần kinh
tay quay.
Da vùng huyệt chi
phối bởi tiết đoạn thần kinh C6-C7.
Tác Dụng:
Trấn thống, thanh
tiết Phế khí, thông giáng Trường Vị, phát biểu, gia?i nhiệt,
khu phong.
Chủ Trị:
Trị ngón tay đau,
ngón tay tê, bàn tay liệt, cánh tay liệt, đầu đau, răng đau,
liệt mặt, amygdale viêm, khớp hàm dưới viêm, mắt đau, cảm
cúm, sốt, bướu giáp đơn thuần, làm co bóp tư? cung.
(“Dư nhiệt chưa
dứt, trước tiên châm Khúc Trì, rồi đến Túc Tam Lý và Hợp Cốc,
2 huyệt này trừ dư nhiệt rất hay” (Châm Cứu Tụ Anh).
(“Bệnh đầu, mặt,
tai, mắt, mũi, miệng: lấy Khúc Trì + Hợp Cốc làm chính”(Tạp
Bệnh Huyệt Pháp Ca).
( “Không mồ hôi
càng nên bổ huyệt Hợp Cốc, tả huyệt Phục Lưu, tất cả cùng
châm. Nếu mồ hôi chảy nhiều không cầm: Hợp Cốc thu bổ hiệu
quả như thần” (Lan Giang Phú).