Khi gập chân (khiêu)
vòng ngược lại (hoàn) chạm gót chân vào mông là huyệt, vì
vậy gọi đó là Hoàn Khiêu.
Tên Khác:
Bận Cốt, Bể Xu,
Bể Yến, Hoàn Cốc, Khu Trung, Phân Trung, Tẩn Cốt.
Xuất Xứ:
Giáp Ất Kinh.
Đặc Tính:
+ Huyệt thứ 30
của kinh Đởm.
+ Một trong nhóm Hồi Dương Cư?u Châm, có tác dụng nâng cao
và phục hồi chính khí.
+ Huyệt Hội của
kinh túc Thiếu Dương và túc Thái Dương.
+ Nhận được một
mạch phụ của kinh Túc Thái Dương, huyệt xuất phát kinh Biệt
Túc Thiếu Dương, nơi tách ra một mạch phụ đến vùng sinh thực
khí ở xương mu để liên lạc với kinh Túc Quyết Âm tại huyệt
Khúc Cốt (Nh.2).
Vị Trí:
Nằm nghiêng co
chân đau ở trên, chân dưới duỗi thẳng, huyệt ở vị trí 1/3
ngoài và 2/3 trong của đoạn nối điểm cao nhất của mấu chuyển
lớn xương đùi và khe xương cùng. Hoặc nằm sấp, gấp chân vào
mông, gót chân chạm mông ở đâu, đó là huyệt.
Giải Phẫu:
Dưới da là cơ
mông to, bờ dưới cơ tháp, bờ trên cơ sinh đôi trên.
Thần kinh vận
động cơ là nhánh của dây thần kinh mông trên, dây thần kinh
mông dưới và các nhánh của đám rối thần kinh cùng.
Da vùng huyệt
chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L2.
Tác Dụng:
Thông kinh lạc,
tiêu khí trệ.
Chủ Trị:
Trị chi dưới
liệt, khớp háng viêm, thần kinh tọa đau, cước khí.
Châm Cứu:
Châm thẳng 2-3
thốn hoặc hướng mũi kim qua 2 bên. Cứu 5 - 10 tráng - Ôn cứu
10 - 15 phút.
Tham Khảo:
(“Xương đùi
không đưa lên được, nên nằm nghiêng 1 bên để thủ huyệt,
huyệt nằm ở chỗ mấu chuyển (Hoàn Khiêu ), châm sâu bằng kim
Viên lợi châm, không nên dùng kim Đại châm”(LKhu.24, 29).
(“ Nếu tà khách
ở Lạc của kinh túc Thiếu Dương Đởm, gây đau nhức ở khớp
háng, không thể cất đùi lên được, châm Hoàn Khiêu với kim
dài. Nếu là hàn tà pHải lưu kim lâu, châm theo tuần
trăng”(TVấn.63, 39).
(“Vùng thắt
lưng đau nhức lan xuống bụng dưới, không thể ngư?a người lên
được, pHải châm Hoàn Khiêu và dựa vào sự xuất hiện và biến
mất của mặt trăng (Nguyệt sinh, Nguyệt tư?) để tính số lần
châm, bệnh ở bên pHải, châm bên trái, và ngược lại. Thiên
‘Thích Yêu Thống’ (TVấn.41, 22).