Trị ngón chân cái đau, dịch hoàn viêm,
tử cung sa, đau do thoái vị (sán khí), băng lậu, tiểu
nhiều, tiểu gắt, tiểu dầm, tiểu ra máu, bụng dưới đau cơn dữ
dội.
(“Nhiệt bệnh mồ hôi vẫn ra mà mạch lại
thuận, có thể châm cho ra mồ hôi, nên thủ huyệt Ngư Tế
(P.10), Thái Uyên (P.9), Đại Đô (Ty.2), Thái Bạch (Ty.3).
Châm tả các huyệt này sẽ làm cho nhiệt giảm bớt, châm bổ thì
mồ hôi ra (LKhu.23, 30).
(“Tai ù do rối loạn khí, phải châm huyệt
Thượng Quan và những huyệt Tỉnh của kinh Tâm Bào ( Trung
Xung - Tb9) và kinh Can (Đại Đôn - C.1), đau bên trái chọn
huyệt bên phải và ngược lại. Trước hết chọn huyệt ở tay sau
đó lấy huyệt ở chân (LKhu.24, 24 + 28).
(“Tà khách ở Lạc của túc Quyết âm, làm
cho người ta đột ngột bị chứng sán thống, châm ở chỗ thịt
giáp móng ngón chân cái [Đại Đôn] (TVấn.63, 10).
(“Huyệt này lúc có thai và sau khi sinh
đẻ không nên dùng phép cứu’ (Loại Kinh Đồ Dực).
(“Dùng Tâm Bấc chấm dầu phụng đốt nổ
trên huyệt này có tác dụng cầm băng huyết ngay” (Trung Quốc
Châm Cứu Học).