Tên thường gọi: Trọng đũa, Cơm nguội răng.
Tên khoa học: Ardisia crenata Sims.
Họ khoa học: thuộc họ Ðơn nem - Myrsinaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Trọng đũa, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ....)
Cây bụi cao tới 2-3m, có thân thẳng, mang ở ngọn 4-10 nhánh mảnh. Lá mọc so le, hình bầu dục, thuôn, nhọn ở hai đầu, dài 8-16cm, rộng 2-4cm, có mép gấp xuống dưới có khía tai bèo nhiều và rộng, với những tuyến đen. Hoa trắng hồng, hồng hoặc đỏ, xếp 4-11 cái thành ngù dạng tán ở ngọn các nhánh. Quả hình cầu, đường kính 4-7mm màu đỏ tía có mũi nhọn lồi ở đầu. Hạt đơn độc, có vết lõm ở gốc khá sâu.
Có hoa quả từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.
Rễ, lá và toàn cây - Radix, Folium et Herba Ardisiae Crenatae. Rễ trọng đũa mềm, nạc, ngoài phớt hồng, cắt ra thì thấy có chấm đỏ như máu, nên ở Trung Quốc người ta gọi nó là Chu sa căn.
Cây gặp ở rừng thưa hoặc rừng cây gỗ có nhiều ánh sáng (tới độ cao 1000m), ở nước ta và nhiều nước nhiệt đới châu á. Có thể thu hái rễ cây quanh năm, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô.
Trong lá có caroten 4,6mg% và vitamin C 35,5mg%.
(Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng ....)
Vị đắng, cay, tính bình, có tác dụng trấn thống tiêu thũng, khư phong trừ thấp, thanh nhiệt giải độc.
Ở nước ta cũng như ở Malaixia, người ta dùng ngọn và lá non, cho muối vò qua, rửa sạch, thái nhỏ, nấu canh ăn, ít khi dùng ăn sống như xà lách.
Ở Trung Quốc toàn cây dùng trị phong thấp đòn ngã, hầu họng sưng đau, đan độc, viêm hạch limphô, dao chém xuất huyết, tâm vị khí thống. Liều dùng 3-10g dược liệu khô sắc nước uống, hoặc dùng rễ tán bột uống, còn dùng phối hợp với các vị thuốc khác làm thuốc chữa bị thương, gẫy xương. Dùng ngoài lấy rễ hoặc lá tươi giã đắp.
Ở Malaixia, dịch của rễ dùng uống trị sốt rét và ỉa chảy; rễ nấu nước dùng cho phụ nữ uống sau khi sinh đẻ.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|
|
|
|