Tên thường gọi: Thiên niên tử, mịch lịch, bình lịch, huỳnh lịch
Tên khoa học: Hyoscyamus niger L.
(Mô tả, hình ảnh cây thiên tiên tử, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý)
Thiên tiên tử là loại cây thảo cao đến 1m, không lông hay có rất ít lông nhất là dưới cụm hoa. Thân cây vuông, mọc đứng hay mọc nằm, phình ở các mấu. Lá có phiến xoan, thường thon dài hay thuôn dài đến hẹp, mép nguyên hay khía tai bèo. Hoa mọc thành chùm ở nách lá, quả nang nâu đậm. Nở rất mạnh khi thấm nước, chứa 20-35 hạt có lông hút nước. Phiến lá chia nhiều thùy, gần chính lá nổi rõ. Hoa mọc thành xim một ngả, tràng hoa màu vàng nhạt với những thùy tràng không đều nhau, với những đường gân của cánh tràng màu tía, 5 nhị.
Hạt của cây thiên tiên tử được dùng để làm thuốc
Khi quả gần chín sẽ được hái về sau đó lấy hạt. Hạt đó đem phơi khô, bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát để dùng dần.
Hạt thiên tiên tử có đường kính 1mm, hình thận, màu nâu nhạt hoặc xám tro.
Vị đắng, tính hàn
Giảm đau chấn kinh
Dùng trong những trường hợp đau răng, điên cuồng.
Ngày dùng l,5-3g. Đau răng thì nhét bột thiên tiên tử vào nơi răng sâu hoặc hun khói sau khi đốt.
Những trường hợp khí hư, vị nhược cấm được dùng.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|
|
|
|