Tên thường gọi: Tảo chuỗi ngọc, Tảo tràng hạt.
Tên khoa học: Nostoc commune Vaucher.
Họ khoa học: thuộc họ Tảo chuỗi ngọc - Nostocaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Tảo chuỗi ngọc, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ....)

Tập đoàn có dạng bản tới 20cm, keo nhầy, mềm, có màu lam đen khi khô và màu xanh đen khi ẩm. Trong chất nhầy của tập đoàn chứa các chuỗi tế bào dị hình. Bào tử được tạo thành nhiều, có khi toàn bộ tế bào dinh dưỡng đều được tạo thành bào tử.
Thể keo của tảo (giao chất thể) - Thallus Nostoctis.
Thường gặp trên đất hay đá ẩm ven bờ suối các tỉnh miền núi và các tỉnh miền xuôi có núi đá như Ninh Bình, Thanh Hoá. Thu thập vào mùa hè, thu, sau cơn mưa, rửa sạch, khử tạp chất, phơi khô dùng.
(Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng ....)
Vị nhạt, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt thu liễm, ích khí minh mục.
Nhân dân thường lấy tảo này ăn và dùng làm thuốc trị bỏng nước sôi, chứng quáng gà. Liều dùng 40-80g, sắc uống. Dùng ngoài tuỳ lượng, tán nhỏ đắp.
1. Trị quáng gà: Tảo chuỗi ngọc 80g, dùng làm rau ăn.
2. Bỏng: Tảo chuỗi ngọc 20g, phơi khô, tán bột hoà dầu đắp
Theo Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn
|
|
|
|