Tên thường gọi: Sơn huyết còn gọi là Sơn tiên, Sơn tiêu, Sơn rừng.
Tên khoa học: Melanorrhoea laccifera Pierre.
Họ khoa học: Thuộc họ Đào lộn hột - Anacardiaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Sơn huyết, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...).
Cây gỗ lớn rụng lá, cao 20-30m. Cây có nhựa mủ vàng sau cứng lại và có màu đen. Lá đơn, dai, mọc so le, hình trứng ngược, dài 12-20cm, rộng 7-10cm, hai mặt nhẵn; gân bên 18-24 đôi, nổi ở hai mặt; cuống lá 3-6mm, dẹt và ít nhiều có cánh. Cụm hoa chuỳ ở nách, phân nhách thưa; cuống hoa có lông và dài hơn hoa; 5 lá đài nhẵn; 5 cánh hoa cuộn lại, thon nhọn; nhị khoảng 30, đính thành 4 hàng; bầu nhẵn có cuống dài. Quả hạch hình cầu hơi dẹt, rộng 3-4cm, gốc mang 5 cánh hoa tồn tại.
Mùa hoa tháng 10-12, mùa quả tháng 2-4.
Vỏ - Cortex Melanorrhoeae Lacciferae.
Loài của Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, thường mọc trong rừng thưa và rừng thường xanh, nhất là ở vùng thấp từ Vĩnh Phú, Hà Tây tới Sông Bé, Tây Ninh, Đồng Nai. Nó hình như phổ biến ở Campuchia trong rừng thưa trên phù sa cổ ở rìa đồng bằng, phù sa sông Cửu Long đến Việt Nam.
Thân cây và các cành tiết ra một chất nhựa dầu khi người ta chích vào vỏ; lá cây cũng có màu vàng đo đỏ.
(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị...)
Nhựa cây rất độc; một giọt nhỏ va vào da có thể làm cháy rộp da và làm cho ngứa ngáy khó chịu. Khói của nhựa khô khi cho vào lửa sẽ làm cho tức tối ngạt thở.
Nhựa sơn dùng để quét lớp sơn lên các vật dụng đan lát để làm cho rổ rá không thấm nước và cũng dùng để sơn tượng gỗ. Gỗ nhẵn giống như gỗ cây Dái ngựa được dùng làm cột nhà và các đồ gỗ thông dụng, có thể làm khuôn, làm đồ tiện, đồ chơi.
Vỏ cây được dùng trong y học dân gian ở Campuchia.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|
|
|
|