Riềng ấm còn gọi là Riềng đẹp, Sẹ nước, Gừng ấm, Cao lương khương, Thảo đậu khấu, Đại thảo khấu
Tên tiếng Trung: 高良姜
Tên khoa học: Alpinia zerumbet (Pers.)
Họ khoa học: Thuộc họ Gừng - Zingiberaceae.
(Mô tả, hình ảnh cây Riềng ấm, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý...)
Cây thảo cao 2-3m. Rễ to, mập. Lá có phiến to, dài 25-70cm,
rộng 6-10cm, cuống dài 2-5mm, mép cao 1,2cm. Cụm hoa ở ngọn
rũ xuống dài 20-40cm, trục đầy lông; lá bắc con dài 20-30mm
làm thành bao trắng, chóp hồng; đài cao 2cm; cánh hoa 2,5cm,
môi dài 3,5cm, vàng có sọc đỏ; nhị dài khoảng 25mm; bầu vàng,
đầy lông. Quả to, đường kính 2cm, đỏ, có lông.
Hoa tháng 3-4, quả tháng 7-10.
Thân rễ, hạt - Rhizoma et Semen Alpiniae Zerumbetis, thường được gọi là Ðại thảo khấu.
Củ dùng làm vị thuốc quý còn gọi là Cao lương khương.
Riềng ấm được phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc rải rác ở các tỉnh miền Bắc qua Thừa Thiên - Huế đến Tây Ninh và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cây thường được làm cảnh ở các xứ nhiệt đới vì hoa đẹp.
Cần phân biệt cây Riềng ấm với Cây Riềng Tàu, Lương khương (Aipinia chinensis Rosc), là cây thảo cao cỡ 1m, thân rễ màu xám vàng, thơm. Lá mọc 2 hàng, hình trái xoan, mũi mác, nhẵn cả hai mặt, dài tới 30cm, rộng 6cm, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ lõm có hai thùy ngắn, tròn, cuống lá ngắn. Chùy hoa ở ngọn mảnh, nhẵn, có các nhánh cách xa nhau, mang nhiều hoa, lá bắc dễ rụng hoặc không có, lá bắc con màu trắng bao lấy đài hoa, cuống hoa nhẵn hình sợi, hoa màu trắng. Đài hình ống, nhẵn có 3 răng. Tràng có ống thụt vào mang các thùy thuôn, lõm. Bao phấn hình bầu dục, chỉ nhị dài gấp 3 lần, cánh môi hình bầu dục, nhị lép hình dùi. Bầu hình bầu dục, nhẵn, nhụy kép hình bản dày, thuôn, khía tai bèo ở ngọn. Quả mọng khô hình cầu, to bằng hạt đậu Hà Lan, chứa 4 hạt. Có hoa vào mùa hạ. Cây mọc hoang ở một số nơi trong nước ta. Củ dùng làm thuốc giúp sự tuần hoàn máu.
Có khi dùng cây Riềng nếp, Đại cao lương khương (Alpinia galanha Swarts) to cao hơn cây Riềng ấm, thân rễ màu hồng, ít thơm, nhưng không tốt bằng loại trên. Cây mọc hoang ở miền núi và được trồng khắp nơi trong nước ta. Cây được trồng bằng thân rễ vào mùa đông xuân. Mùa hoa quả tháng 5-9, dùng thân rễ thu hái vào mùa đông xuân rồi phơi khô làm thuốc kích thích tiêu hóa, đầy bụng, đau họng, tiêu lỏng. Dùng từ 2-3 chỉ sắc hoặc tán bột uống tươi, có thể gĩa nhỏ ngâm nước muối và dịch chân. Phơi khô dùng chữa ho, khát nước (Xem: Cao lương khương tử).Có khi trồng hoặc mọc hoang khắp nơi trong nước Việt Nam.
Trong rễ có 0,5-1,5% tinh dầu. Thành phần có Methyl Cinnamate, Eugenol, Pinene, Cadimene, Galangin, Kaempfende, Kaempferol, Quercetin, Isorhamnetin, Galangol (Trung Dược Học).
Có tinh dầu mà thành phần chủ yếu là Cineol và Methylxinamta. Ngoài ra còn có một chất dầu vị cay là Galangol, 3 chất kết tinh, đều là dẫn chất của Flavonoid: Galangin, Anpinin và Kamferit (Dược Liệu Việt Nam).
Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc Củ riềng ấm (Cao lương khương) có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn bạch hầu, liên cầu khuẩn dung huyết, Anthrax bacillus, song cầu khuẩn viêm phổi, tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lao (Trung Dược Học).
Nước sắc của củ riềng ấm (Cao lương khương) có tác dụng hưng phấn ruột cô lập của súc vật thí nghiệm, nồng độ cao lại có tác dụng ức chế. Dầu thơm Lương khương có tác dụng kiện Vị (Trung Dược Học).
(Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng .... )
Vị cay, chát, tính ấm, không độc
Có tác dụng tán hàn thấp, tiêu đờm trệ, làm ấm bụng, mạnh tỳ vị, giúp tiêu hóa, lại trừ được sốt rét.
Lạnh đột ngột, lạnh ngược lên trong vỵ miệng nôn trông tháo (hoắc loạn) đau bụng.
Lá sắc uống chữa sốt, đau bụng, khó tiêu. Tinh dầu rất thơm có thể dùng thay tinh dầu Gừng trong thực phẩm.
Ðại thảo khấu 12g, Nam mộc hương, Chỉ xác, Bách bệnh (hay Hậu phác), Nghệ đen, Rẻ quạt, đều 100g, sắc uống hay tán bột làm viên uống mỗi lần 10g, ngày uống 3 lần.
Riềng 8g, táo 1 quả sắc uống
Riềng ấm tẩm dầu sao 40g, Gừng nướng 40g, hai vị tán nhỏ, mật lợn hoàn viên bằng hạt ngô, ngày 15-20 viên.
Than tóc rối, Cao lương khương sắc uống.
Cây được dùng như Riềng nếp - Alpinia galanga, chữa:
1. Ðau dạ dày, trướng bụng;
2. Đàm thấp tích trệ;
3. Tiêu hóa không bình thường, nôn mửa, ỉa chảy. Liều dùng 5-10g, dạng thuốc sắc.
Người tạng nhiệt, nôn khan, cấm dùng
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|
|
|
|