Bài thuốc chữa bệnh - Banner
HOME MENU Bài thuốc chữa bệnh - Tìm kiếm

Viêm màng bồ đào (Uveitis )

Khái niệm

Viêm màng bồ đào là một bệnh mắt khá phổ biến

Căn nguyên bệnh phức tạp, tổn thương lâm sàng thường nặng nề, nhiều biến chứng, hay tái phát và có thể dẫn đến mù loà.

Điều trị viêm màng bồ đào thường khó khăn vì điều trị phải dựa vào chẩn đoán nguyên nhân mà nhiều trường hợp không tìm được nguyên nhân.

Đông y căn cứ vào tứ chẩn, bát cương và nguyên tắc phù chính khư tà tăng cường sức miễn dịch tự chữa bệnh của cơ thể, trong trường hợp cấp tính kết hợp với điều trị tây y mang lại hiệu quả rất tốt

Định nghĩa:

Màng bồ đào lớp giữa của mắt (mống mắt ), là vòng màu của các mô xung quanh đồng tử, trong suốt nằm ngay sau giác mạc, và trước võng mạc, Màng bồ đào cấu tạo bởi ba thành phần: mống mắt phía trước, thể mi ở giữa và hắc mạc ở phía sau. Bệnh lý viêm của ít nhất một trong ba thành phần trên gọi là bệnh viêm màng bồ đào.

Màng bồ đào là gì- cấu tạo mắtMàng bồ đào chứa các mạch máu, tĩnh mạch và động mạch đưa máu lên mắt. Vì nó nuôi dưỡng nhiều bộ phận quan trọng của mắt (như võng mạc), viêm màng bồ đào có thể làm hỏng thị lực

Phân loại

Thông dụng nhất là phân loại theo vị trí bị bệnh:

Viêm thượng củng mạc thường gọi là Viêm củng mạc

Viêm màng bồ đào trước thường gọi là viêm mống mắt-thể mi.

Viêm màng bồ đào trung gian thường gọi là viêm vùng pars-plana.

Viêm màng bồ đào sau thường gọi là: viêm hắc mạc.

Viêm màng bồ đào toàn bộ: khi toàn bộ mắt bị viêm từ phía trước ra phía sau

Ở mỗi thể khác nhau những triệu chứng cũng có phần khác biệt

Triệu chứng

Viêm mống mắt-thể mi

Triệu chứng chủ quan:

Nhìn mờ là triệu chứng xuất hiện ngay từ đầu, có khi có cảm giác nhìn qua màn sương, có khi nhìn mờ nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt của bệnh nhân. Đau nhức mắt: là triệu chứng chủ quan nổi bật nhất, thường là đau nhức âm ỉ, đôi khi đau nhiều thành cơn kèm theo nôn hoặc buồn nôn. Sợ ánh sáng, chảy nước mắt, đỏ mắt. Đôi khi bệnh nhân không hề có các triệu chứng chủ quan, viêm màng bồ đào được phát hiện tình cờ khi khám mắt.

Triệu chứng khách quan:

Cương tụ rìa: cương tụ xung quanh vùng rìa giác mạc, càng xa vùng rìa cương tụ càng giảm dần. Tủa giác mạc: là những lắng đọng viêm ở nội mô giác mạc.

Tủa giác mạc có thể rải rác khắp mặt sau giác mạc hoặc đọng ở trung tâm, nhưng điển hình là lắng đọng hình quạt hay tam giác đỉnh quay lên trên (tam giác Arlt). Tủa giác mạc có khi là những chấm nhỏ li ti như bụi, có khi tủa thành đốm giống những giọt mỡ cừu.

Dấu hiệu Tyndall: là những thể lơ lửng trong thuỷ dịch do tế bào hoặc xuất tiết viêm.

Mức độ nặng của phản ứng tế bào ở tiền phòng được đánh giá theo số lượng tế bào viêm soi thấy trong tiền phòng bằng kính sinh hiển vi với đèn khe 2 mm:

Cương tụ rìa và tủa sau giác mạc O: không có tế bào viêm.

1+: dưới 10 tế bào viêm.

2+: 10-20 tế bào viêm.

3+: 20-30 tế bào viêm.

4+: dày đặc tế bào viêm. Xuất tiết:

Xuất tiết diện đồng tử có thể tạo thành màng bịt kín diện đồng tử.

Xuất tiết mống mắt: có thể làm dính mống mắt với mặt trước thể thuỷ tinh, khi tra thuốc làm giãn đồng tử những chỗ dính sau mống mắt tách ra để lại một vòng sắc tố mống mắt mặt trước thể thuỷ tinh ( vòng Vossius).

Xuất tiết ở góc tiền phòng: khi quá trình viêm nặng, xuất tiết nhiều lắng xuống ở góc tiền phòng tạo thành ngấn mủ, thường đây là mủ vô trùng.

Những thay đổi ở đồng tử: Đồng tử co nhỏ, phản ứng chậm. Đồng tử có thể dính vào mặt trước thể thuỷ tinh, nếu dùng thuốc giãn đồng tử có thể làm tách dính hoàn toàn hoặc không hoàn toàn (lúc đó đồng tử méo hoặc đồng tử có hình hoa khế).

Tổn thương ở mống mắt: Mống mắt phù viêm, khi dính hết bờ đồng tử vào mặt trước thể thuỷ tinh, thuỷ dịch ứ đọng ở hậu phòng đẩy phồng mống mắt làm mống mắt có dấu hiệu hình núm cà chua.

Các nốt viêm ở mống mắt:

Nốt Koeppe: các nốt màu trắng xám, ở bờ đồng tử, xuất hiện sớm trong đợt viêm và thường tiêu đi.

Nốt Busacca: các nốt nằm ở mặt trước hoặc nằm sâu trong nhu mô mống mắt, màu trắng xám, có thể tồn tại nhiều tháng, đôi khi tổ chức hoá, có tân mạch hoặc thoái hoá kính,nốt Busacca ít gặp hơn nốt Koeppe.

Thoái hoá hoặc teo mống mắt, mất sắc tố mống mắt.

Dấu hiệu phản ứng thể mi: Phản ứng đau khi thày thuốc ấn hai ngón trỏ vào vùng thể mi qua mi trên.

Thể thuỷ tinh: Thường gặp tủa sắc tố mặt trước thể thuỷ tinh hoặc có thể gặp đục thể thuỷ tinh do bệnh viêm mống mắt - thể mi.

Nhãn áp: Nhãn áp thường thấp thoáng qua trong giai đoạn đầu, có trường hợp nhãn áp thấp vĩnh viễn do thể mi bị huỷ hoại gây teo nhãn cầu; có trường hợp nhãn áp tăng do dính mống mắt hoặc viêm xuất tiết bịt góc tiền phòng cản trở lưu thông thuỷ dịch.

Viêm màng bồ đào trung gian (viêm pars-plana):

Triệu chứng chủ quan:

Triệu chứng chủ quan nghèo nàn, thường được phát hiện tình cờ khi khám mắt.

Nhìn mờ: thường là hiện tượng thấy những thể lơ lửng trước mắt như cảm giác ruồi bay, Đôi khi có dấu hiệu nhìn méo hình, nhìn hình to lên hay nhỏ đi hoặc có đám mờ ở trung tâm do phù hoàng điểm.

Triệu chứng khách quan:

Phát hiện bằng soi đáy mắt: Dịch kính phía dưới có những tổn thương dạng ''nắm tuyết'' hoặc tổn thương dạng "đám tuyết" ở vùng Pars-plana phía dưới. Có thể có biểu hiện viêm thành tĩnh mạch võng mạc chu biên: hiện tượng "lồng bao".

Tổn thương vùng hoàng điểm: phù hoàng điểm dạng nang, là nguyên nhân gây giảm thị lực nhiều trong viêm màng bồ đào trung gian.

Viêm hắc mạc:

Hiện tượng chớp sáng do kích thích tế bào que và nón. Cảm giác nhìn thấy ''ruồi bay'' hay ''mạng nhện'' khi có viêm đục dịch kính. Nhìn vật biến dạng to lên hay nhỏ đi khi có tổn thương vùng hoàng điểm.

Triệu chứng thực thể Viêm hắc mạc hay có kèm theo biểu hiện viêm của võng mạc và dịch kính.

Đục dịch kính: dấu hiệu Tyndall trong dịch kính, có thể thấy dấu hiệu bong dịch kính sau một phần hay toàn bộ. Soi đáy mắt có thể thấy viêm hắc mạc thành ổ hay nhiều ổ, hoặc viêm hắc mạc toả lan đó là những vùng trắng xám hoặc vàng nhạt bờ thường không rõ, đôi khi có kèm theo xuất huyết dưới võng mạc. Võng mạc vùng tương ứng thường phù trắng đục, dày lên hoặc có thể có bong võng mạc do xuất tiết- bong võng mạc nội khoa. Các viêm hắc võng mạc cũ có thể để lại những vùng sẹo tăng sinh và di thực sắc tố hoặc teo mỏng hắc võng mạc.

Tiên triệu:

Viêm màng bồ đào có nhiều biến chứng phức tạp:

Tăng nhãn áp:

Tăng nhãn áp là biến chứng khá phổ biến của viêm màng bồ đào trước, tăng nhãn áp trong đợt viêm cấp là do nghẽn đồng tử, nghẽn góc tiền phòng do xuất tiết. Tăng nhãn áp trong viêm màng bồ đào cũ là do dính góc tiền phòng hoặc dính bít đồng tử hoặc do tân mạch mống mắt (Glôcôm tân mạch). Ngoài ra cũng phải kể đến tăng nhãn áp do dùng kéo dài thuốc Corticoid trong điều trị bệnh viêm màng bồ đào .

Đục thể thuỷ tinh:

Đục thể thuỷ tinh thường gặp trong viêm mống mắt thể mi mạn tính hoặc tái phát, là biến chứng của thường gặp quá trình viêm hoặc do điều trị Corticoid kéo dài. Phù hoàng điểm dạng nang Viêm màng bồ đào trung gian hoặc viêm hắc mạc có thể gây biến chứng phù hoàng điểm dạng nang làm giảm thị lực.

Teo nhãn cầu:

Trong viêm mống mắt thể mi nặng, thể mi giảm tiết thuỷ dịch vĩnh viễn dẫn đến teo nhãn cầu.

Tổ chức hoá dịch kính:

Dịch kính đục, tổ chức hoá làm giảm thị lực; bong dịch kính sau có thể co kéo gây thoái hoá, bong võng mạc.

Bong võng mạc:

Viêm màng bồ đào sau có thể gây bong võng mạc do xuất tiết hoặc bong võng mạc do xơ dịch kính co kéo.

Đông y chữa viêm màng bồ đào ( 葡萄膜炎)

Dùng thuốc tây y có rất nhiều tác dụng phụ, và dễ tái phát.. Khi dùng những thuốc này phải theo dõi chức năng gan thận, phải ngừng thuốc ngay khi thấy bắt đầu có dấu hiệu nhiễm độc hoặc dùng thuốc không có hiệu quả ở liều điều trị, hoặc tái phát nhiều lần. Dùng thuốc đông y làm chủ, kết hợp với thuốc tây y nhỏ mắt tại chỗ như atropin, corticoid ... một số nghiên cứu đối chứng dùng cả corticoid uống kết hợp với thuốc tây y đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đem lại kết quả tốt. Thời gian phải sử dụng thuốc tây giảm 30-35%, tỉ lệ khỏi bệnh tăng 20-40% tỉ lệ tái phát giảm 50-60%, giảm thiểu các tác dụng phụ của thuốc tây. .. Dưới đây là một số nghiên cứu điều trị viêm màng bồ đào

Biện chứng phân thể trị liệu:

Chiêm Vũ kiên các loại biện chứng chia làm 2 thể:

Nhiệt độc xí thịnh

dùng tiêu viêm Số 1 phương (hoàng liên, Sơn chi tử, long đảm thảo, sài hồ, tam thất, thổ phục linh );

Can thận Âm hư

dùng tiêu viêm số 2 phương (Hoàng bá, Tri mẫu, Hạ khô thảo, sinh địa, tam thất, thổ phục linh ) tại chỗ sử dụng atropin, kháng sinh, Thuốc nhỏ mắt thay thế nước mắt,

Điều trị bản bệnh 44 ca, khỏi 6 ca, Đỡ nhiều 15 ca, bệnh đỡ 15 ca, vô hiệu 8 ca, tổng có hiệu suất 81. 8%.

Lục Miên Miên kinh nghiệm biện chứng chia làm 3 thể:

Dương minh kinh nhiệt kiêm kèm ThấpTà:

Dùng thương truật bạch hổ thang gia giảm (thạch cao sống, Ý dĩ Nhân, Tri mẫu, thương truật, chư linh, phục linh, Cát căn, Ích mẫu thảo, hoàng liên, hoàng cầm, sinh cam thảo)

Can đảm nhiệt:

Dùng Long đởm tả can thang gia giảm (long đảm thảo, xào Sơn chi, sài hồ, hoàng cầm, đương quy, sinh địa, trạch tả, quyết minh tử, Xa tiền tử);

Thấp lâu hoá nhiệt, Thấp nhiệt đều nặng:

DùngTam hoàng nhị trần thang gia giảm (hoàng liên, Bạch khấu nhân, hoàng cầm, Hoàng bá, xuyên Phác hoa, trần bì, pháp bán hạ, địa phu tử, hán phòng kỷ, Tiêu sơn tra, tiêu thần khúc, Xa tiền tử)

Bàng phượng biện chứng chia làm 5 thể:

Nhiệt độc xí thịnh:

Dùng tê giác địa hoàng thang hoặc hoàng liên Giải Độc thang hợp ngũ vị tiêu độc ẩm gia giảm;

Can đởm nhiệt:

Dùng Long đởm tả can thang hợp tam nhân thang hoặc trừ Thấp thang gia giảm;

can kinh phong nhiệt:

Dùng Tân chế sài liên thang gia giảm

Can thận Âm hư:

Dùng Lục vị địa hoàng thang hoặc kỷ hoa cúc địa hoàng thang gia giảm;

Âm hư hỏa vượng:

Dùng Tri Bá địa hoàng thang gia giảm.

Điều trị 36 ca 64 mắt, trị hết 25 mắt, bệnh đỡ 36 mắt, vô hiệu 3 mắt, tổng có hiệu suất vì 95. 31%. Hơn nữa đại bộ phận người bệnh ở sau điều trị tái phát giảm thiểu, giảm hẳn sử dụng corticoid giảm, giảm số lượng phản ứng phụ từ corticoid đưa tới Phản ứng không tốt cũng đạt được cải thiện rõ rệt .

Vương hồng nhạn biện chứng chia làm 6 thể:

Can kinh phong nhiệt

Dùng Tân chế sài liên thang thêm sinh địa, đan bì, Đan sâm, cỏ ích mẫu tử;

Can khí tích tụ

Dùng đan Chi tiêu dao tán gia giảm;

Âm hư hỏa vượng

Dùng Tri Bá địa hoàng thang thêm câu kỷ tử, cây hoa cúc;

Can đảm nhiệt thịnh:

Dùng Long đởm tả can thang thêm đan bì, xích thược, Bồ hoàng các loại;

Thấp nhiệt nội hàm:

Dùng tam nhân thang thêm long đảm thảo, sơn chi, sài hồ, hoàng cầm;

nhiệt độc nội hàm

Dùng hoàng liên Giải Độc thang hợp ngũ vị khử trùng uống gia giảm. Kết hợp tây y. Điều trị 215 ca, khỏi hẳn 105 ca, bệnh đỡ 80 ca, vô hiệu 30 ca, tổng có hiệu suất 86. 05% [ 4] .

Tôn Dĩ Huyên Các loại biện chứng chia làm 5 thể:

Can kinh phong nhiệt

Dùng Tân chế sài liên thang gia giảm;

Can đảm hoả thịnh:

Dùng Long đởm tả can thang gia giảm;

Tỳ vị nhiệt độc:

Dùng bạch hổ thang gia giảm:

Phong thấp quấy nhiễu ở trên:

Dùng khương hoạt phòng kỷ thang gia giảm;

Âm hư hiệp nhiệt:

Dùng đồng thiếu tả can thang gia giảm (sinh địa, huyền sâm, mạch môn, Tri mẫu, sinh cam thảo, Địa cốt bì, đan bì, Xích thược, cỏ ích mẫu tử, hoàng cầm, đảng sâm, hoàng kì). Tại chỗ dùng thuốc nhỏ mắt atropin, toàn thân tiêm dexamethasol,

Điều trị 60 ca 68 mắt toàn bộ trị hết, có hiệu suất 100%.

Thái dân chúng biện chứng chia làm 3 thể:

Can đởm nhiệt

Dùng Long đởm tả can thang gia giảm;

Can thận Âm hư

Dùng kỷ hoa cúc địa hoàng hoàn gia giảm;

Khí hư Thấp đình chữa cần ích khí thông dương,

Dùng bài hoá Thấp Minh mục (hoàng kì, đảng sâm, thương truật, Xa tiền tử, trạch tả, Quế chi, dâm dương hoắc, sinh cam thảo).

Điều trị 9 ca 18 mắt , hiệu quả điều trị thoả mãn, ngừng dùng kích thích tố hơn nửa năm chưa tái phát

Biện bệnh theo giai đoạn trị liệu

Nghiêm hán ngân Chia Viêm màng bồ đào chia làm 3 kỳ:

Giai đoạn cấp tính:

Pháp trị: Lương huyết giải độc

Dùng Bồ đào viêm cơ bản phương (sinh địa, thạch cao sống, ngân hoa, hoàng cầm, Lôi công đằng, xích thược, Tri mẫu, cỏ ích mẫu tử, sài hồ, cây kinh giới); Tiền phòng có dịch chẩy ra, rêu lưỡi dính thêm trần bì, bán hạ, Tiền phòng tích mủ gia Đại hoàng;

Giai đoạn giữa bệnh đã giảm

Pháp trị: tư âm giáng hỏa

Dùng sinh địa, Tri mẫu, Hoàng bá, xích thược, bạch thược, sài hồ, Địa cốt bì, đan bì, cỏ ích mẫu tử;

Giai đoạn cuối dưỡng bệnh:

Dùng kỷ hoa cúc địa hoàng hoàn gia giảm.

Điều trị 2 tổ đối chiếu, một tổ dùng tây y,

1 tổ dùng kết hợp đông tây y: kết quả Tổ kết hợp đông y: 42 mắt khỏi 28 mắt , bệnh đỡ 11 mắt , vô hiệu 3 mắt , có hiệu suất 92. 9%;

Tổ chỉ dùng thuốc tây 38 mắt trị hết 10 mắt , bệnh đỡ 19 mắt, vô hiệu 9 mắt , có hiệu suất 76. 3%,

Phạm tiểu Vinh phân 3 kỳ:

Giai đoạn cấp tính:

dùng thanh nhiệt giải độc thang gia giảm, dược dụng Bạch hoa xà thiệt thảo, thạch cao sống, huyền sâm, ngân hoa, cây bồ công anh, cây khương hoạt, Bản lam căn các loại làm chủ;

Thời kỳ bệnh đỡ:

Dùng dưỡng Âm thanh nhiệt thang gia giảm, dược dụng sinh địa, huyền sâm, sa sâm, Tri mẫu, Bạch hoa xà thiệt thảo, ngân hoa các loại làm chủ;

Thời kỳ dưỡng bệnh:

Dùng Tri Bá địa hoàng thang gia giảm.

Thuốc tây từng bước giảm dần theo tình hình bệnh Điều trị 29 ca, khỏi 5 ca, Đỡ nhiều 20 ca, vô hiệu 4 ca, có hiệu suất 86% .

Lại cẩm đoan phân 2 kỳ:

Giai đoạn cấp tính:

dùng Tân chế sài liên thang gia giảm, mắt đau nhức rõ ràng thêm tam thất; Tiền phòng tích mủ thêm thạch cao sống, Tri mẫu; táo bón gia tăng vàng, chỉ thực: Rêu lưỡi vàng bẩn thêm Khổ sâm, thổ phục linh; kèm viêm khớp thêm Độc hoạt, tần giao, Phòng kỷ; mạn tính kỳ dùng ôn can đảm thang gia giảm,

Giai đoạn bệnh đỡ:

Tiền sử đáy mắt xuất tiết, hiện tại thủy tinh thể vẩn đục, trong thời gian ngắn có thể dùng Tam lăng, nga thuật, Thuỷ điệt, Hải cáp xác, Mẫu lệ;

Mắt khô sáp, lưỡi nhạt, mạch tế Nữ trinh tử, hoàng tinh, sinh địa: Khí huyết không đủ thêm hoàng kì, Thái tử sâm, đương quy. Điều trị 36 ca 40 mắt , trị hết 32 mắt , tỉ lệ chữa khỏi 80%, bệnh đỡ 8 mắt , có hiệu suất 100%, trong 36 ca có 4 ca tái phát 3

Bài thuốc chuyên trị:

Quách Hà

Ddùng phù chính cố bổn, tư bổ can thận, tư âm giáng hỏa kháng viêm Minh mục tễ (hoàng kì, sinh địa vàng, Thái tử sâm, Nữ trinh tử, hoàng tinh, Tri mẫu, Hoàng bá, đương quy, phục linh, dâm dương hoắc, cam thảo) Điều trị mạn tính Viêm màng bồ đào,

Kết quả

Tổ dùng kết hợp đông y: + 31 ca, trị hết 25 ca ( 80. 65%), Đỡ nhiều 3 ca, hữu hiệu 2 ca, vô hiệu 1 ca, tổng có hiệu suất 96. 85%,

Tổ dùng tây y đơn thuần + 30 ca, trị hết 18 ca ( 60%), Đỡ nhiều 5 ca, hữu hiệu 3 ca, vô hiệu 4 ca, tổng có hiệu suất 86.7%, tỉ lệ khỏi khác biệt rõ ràng (P< 0. 05), tổng có hiệu suất sai biệt ít hơn(P> 0. 05), theo phỏng vấn sau 1 năm tổ 1 có l ca tái phát, tổ không dùng thuốc đông y tái phát 5 ca.

Trần Á Cầm

Dùng đan Chi tiêu dao tán gia vị Điều trị ngoan cố tính Viêm màng bồ đào:

Hiệu quả Điều trị thoả mãn .

Trương khánh Liên:

Dùng Viêm màng bồ đào tán (long đảm thảo, thạch quyết minh, cây hoa cúc, trạch tả, cỏ ích mẫu tử, cẩu kỷ tử các loại)

Điều trị Cơ thể mi viêm cấp tính đối chiếu tổ uống trong Long đởm tả can hoàn, 2 tổ người bệnh ngoài dùng thuốc nhỏ không dùng dược liệu khác, 14 ngày một đợt trị liệu, Kết quả Tổ 1 (Dùng viêm màng bồ đào tán) 60 ca, trị hết 25 ca ( 41. 67%), Đỡ nhiều 18 ca ( 30%), hữu hiệu 14 ca ( 23. 33%), vô hiệu 3 ca, tổng có hiệu suất 95%; đối chiếu tổ 60 ca, trị hết 8 ca ( 13. 33%), Đỡ nhiều 18 ca ( 30%), hữu hiệu 25 ca ( 41. 67%), vô hiệu 9 ca, tổng có hiệu suất 85%, giữa 2 tổ có sự khác biệt rõ rệt (P< 0. 01)

Từ Đại mai:

Các thể đều dùng Thanh can lợi Thấp thang (long đảm thảo, sơn chi, hoàng cầm, hoàng liên, sài hồ, thổ phục linh, Xa tiền tử, xích thược, sung úy tử, Thanh tương tử, Hạ khô thảo)

Điều trị Viêm màng bồ đào cấp tính, tại chỗ nhỏ thuốc dãn đồng tử, bôi thuốc dịch nhiệt huân mắc nhãn, nhiều lần phát tác phối hợp Lôi công đằng phiến uống trong .

Gia giảm: Nhãn đau nhức quá mức thêm linh dương giác, tam thất phấn;

Dịch vàng thượng xung gia Đại hoàng, đan bì, ngưu giác; Có tiền sử bệnh lao phổi thêm Miết giáp, Địa cốt bì; bệnh phong thấp thêm ô tiêu xà, Hải phong đằng; kèm bệnh tiểu đường thì gia long đảm thảo, sơn chi, thêm thương truật, hoàng tinh; có ngoại thương thêm tam thất, Thuỷ điệt. Điều trị bản bệnh 100 ca 108 mắt , trị hết 84 mắt , bệnh đỡ 22 mắt , vô hiệu 2 mắt , tổng có hiệu suất 98. 15% .

Điều trị viêm màng bồ đào theo tây y

Điều trị nội khoa

Điều trị viêm màng bồ đào thường khó khăn vì điều trị phải dựa vào chẩn đoán nguyên nhân mà nhiều trường hợp không tìm được nguyên nhân.

Điều trị theo nguyên nhân bằng thuốc đặc hiệu:

Kháng sinh chống vi khuẩn, thuốc chống virus, thuốc chống nấm, thuốc diệt ký sinh trùng...

Thuốc làm giãn đồng tử và liệt thể mi:

Atropin 1-4% tra mắt 1-2 lần/ngày. thuốc có tác dụng làm giãn đồng tử, tách dính mống mắt vào mặt trước thể thuỷ tinh; làm giảm tiết và nghỉ ngơi thể mi có tác dụng giảm viêm và giảm đau.

Thuốc chống viêm Corticoid:

là thuốc chống viêm chủ lực trong điều trị viêm màng bồ đào . Thuốc có nhiều dạng và nhiều đường dùng: tra mắt, tiêm tại mắt hoặc dùng đường toàn thân ( uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch). Liều dùng 1mg/kg cân nặng/ngày, dùng liều giảm dần. Có thể dùng liều cao đường tĩnh mạch cùng sự phối hợp theo dõi của bác sĩ nội khoa...Thuốc có nhiều tác dụng phụ nên cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc.

Các thuốc chống viêm không phải Corticoid:

có thể dùng thay thế trong trường hợp chống chỉ định dùng Corticoid: Indomethacin, Diclofenac...

Thuốc ức chế miễn dịch:

Dùng trong những trường hợp viêm màng bồ đào nặng, kháng corticoid. Bao gồm các thuốc như : Cyclophosphamit, Clorambuxil, Azathioprin, Methotrexat, Cyclosporin....

Khi dùng những thuốc này phải theo dõi chức năng gan thận, phải ngừng thuốc khi thấy bắt đầu có dấu hiệu nhiễm độc hoặc dùng thuốc không có hiệu quả ở liều điều trị.

Điều trị viêm màng bồ đào bằng Phẫu thuật:

chủ yếu để điều trị biến chứng viêm màng bồ đào:

Phẫu thuật thể thuỷ tinh.

Phẫu thuật điều trị tăng nhãn áp.

Cắt dịch kính, bóc màng trước võng mạc.

Phẫu thuật bong võng mạc.

Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích. Hãy chia sẻ để tạo phúc cho mình và giúp đỡ mọi người.

Tư vấn sức khỏe trực tuyến Tư vấn sức khỏe trực tuyến Chia sẻ facebook Tư vấn sức khỏe trực tuyến


Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH
Tư vấn sức khỏe trực tuyến  Tư vấn sức khỏe trực tuyến   Đầu trang