Tiêu chảy cấp thường được định nghĩa là đi cầu phân lỏng hoặc tóe nước trên 3 lần trong 24 giờ , phân không thành khuôn, trừ những trẻ bú mẹ, thường đi mỗi ngày một vài lần phân nhão, đối với những trẻ này xác định tiêu chảy thực tế là phải dựa vào tăng số lần hoặc tăng mức độ lỏng của phân mà các bà mẹ cho là bất thường. Nguyên nhân gây ra tiêu chảy cấp thường do trẻ khi ăn uống phải ăn thức ăn, nước uống hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây sẽ bị nhiễm bệnh. Điều trị tiêu chảy thường giải quyết trước tiên là mất nước và mất dinh dưỡng bằng bù nước và điện giải hồi phục dinh dưỡng cho trẻ.
Tiêu chảy cấp ( TCC ) là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần/ngày và kéo dài không quá 14 ngày thường dưới 7 ngày. Đợt tiêu chảy là thời gian kể từ ngày đầu tiên bị tiêu chảy tới ngày mà sau đó 2 ngày phân trẻ bình thường. Nếu sau 2 ngày trẻ tiêu chảy lại là trẻ bắt đầu một đợt tiêu chảy mới.
Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong, suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của trẻ.
Trẻ em, nhất là trẻ em dưới 5 tuổi, mắc bệnh ỉa chảy do ăn uống phải thức ăn nước uống bị nhiễm khuẩn. Trẻ cũng có thể mắc bệnh trực tiếp do tiếp xúc với phân của người mắc bệnh. Những thói quen làm tăng nguy cơ mắc bệnh là không rửa tay trước khi ăn, ăn rau sống không rửa sạch, uống nước lã chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh. Ngoài ra còn do một số yếu tố khác như trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ hoặc một số bệnh như sởi, suy dinh dưỡng...
Trên lâm sàng đã xác định 3 hội chứng lâm sàng khác nhau của tiêu chảy, thể hiện 3 cơ chế bệnh sinh khác nhau, đòi hỏi các biện pháp điều trị khác nhau.
Thuật ngữ này nói đến bệnh tiêu chảy khởi đầu cấp, kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày), phân lỏng hoặc tóe nước, không thấy máu. Tiêu chảy phân lỏng cấp tính gây mất nước. Bệnh nhân có thể bị nôn và sốt. Thức ăn đưa vào cơ thể giảm cũng góp phần gây suy dinh dưỡng. Tử vong xảy ra là do mất nước. Các tác nhân quan trọng gây bệnh ở trẻ em tại các nước đang phát triển là: Rotavirus, ETEC, Shigella, Campylobacter Jejuni, Cryptosporidia và ở một nơi còn gặp Vibrio cholerae 01, Salmonella và Enteropathogenic Escherichia Coli (EPEC).
Đây là bệnh tiêu chảy thấy có máu trong phân. Tác hại chính của lỵ gồm: bệnh nhân chán ăn, sụt cân nhanh, niêm mạc bị tổn thương do sự xâm nhập của vi khuẩn. Bệnh còn gây ra các biến chứng khác nữa.
Nguyên nhân quan trọng nhất của lỵ cấp là Shigella các vi khuẩn khác nhưCampylobacter Jejuni và ít gặp hơn là E. Coli xâm nhập (ETEC) hoặc Salmonella.
E. Histolytica có thể gây ra hội chứng lỵ nặng ở người lớn nhưng ít gây bệnh hơn cho trẻ em.
- Là bệnh tiêu chảy khởi đầu cấp tính nhưng kéo dài bất thường (ít nhất là 14 ngày). Bắt đầu mỗi đợt có thể là tiêu chảy phân lỏng cấp hoặc là hội chứng lỵ. Bệnh nhân thường bị sút cân rõ rệt. Lượng phân đào thải cũng có thể nhiều gây nguy cơ mất nước. Không có tác nhân vi sinh vật riêng biệt nào gây tiêu chảy kéo dài. E. Coli bám dính (EAEC), Shigella và Cryptosporidia có thể có vai trò quan trọng hơn so với các tác nhân khác.
- Yếu tố nguy cơ của tiêu chảy kéo dài: suy dinh dưỡng, cho ăn sữa động vật hoặc các loại sữa công nghiệp (hoặc sữa đậu nành), tuổi nhỏ (< 18tháng), tổn thương hệ miễn dịch, tiêu chảy gần đây.
Sinh lí trao đổi nước bình thường của ruột non:
Ví dụ ở người lớn khoẻ mạnh:
– Nước vào hàng ngày qua ăn uống < 2 l.
– Dịch tiêu hoá (nước bọt, dịch vị, dịch ruột, mật, tụy) bài tiết khoảng 9 l vào hỗng tràng.
– Tại ruột non: nước và điện giải đồng thời được hấp thu ở các TB, hấp thu ở nhung mao ruột và bài tiết ở các hẽm tuyến à tạo nên sự trao đổi 2 chiều giữa lòng ruột và máu.
– Bình thường 90% lượng dịch được hấp thu ở ruột non à chỉ còn 1 lít đi xuống đại tràng.
– Đại tràng tiếp tục tái hấp thu qua các tế bào liên bào, chỉ còn khoảng 100 – 200 ml bài tiết bình thường ra ngoài theo phân.
– Quá trình hấp thu nước – điện giải xảy ra chủ yếu ở ruột non nên khi rối loạn à Một lượng nước lớn ùa vào đại tràng, vượt quá khả năng hấp thu của đại tràng à ỉa chảy.
– Ruột non đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều hoà thăng bằng nước và điện giải giữa huyết tương và các chất dịch trong lòng ruột.
– Quá trình trao đổi nước qua liên bào ruột được điều hoà chủ yếu bởi sự chênh lệch áp lực thẩm thấu gây nên bởi sự vận chuyển các chất hoà tan, trong đó Na+ đóng vai trò quan trọng. – Na+ được vận chuyển từ lòng ruột vào TB bởi:. +Trao đổi với 1 ion H+. + Gắn với Clorid. + Gắn với Glucose hoặc peptid trên các vật tải.
– Khi Glucose vào làm tăng sự hấp thu Na từ lòng ruột vào máu gấp 3 lần. Cơ chế hấp thu từng cặp của Na+ và Glucose là nguyên lí cơ bản của việc sử dụng glucose trong dung dịch ORS.
– Na+ từ TB được vận chuyển vào máu qua bơm Na+ K+ ATPase.
– Na+ vào được khoảng gian bào à tăng ALTT khu vực này à chênh lệch ALTT giữa máu và lòng ruột à kéo nước từ lòng ruột vào khoảng gian bào vào máu.
– Cl– được hấp thu ở hồi tràng và đại tràng bằng cách trao đổi với ion HCO3–.
– Quá trình bài tiết ngược lại với quá trình hấp thu. Na+ cùng với Cl–đi vào màng bên của TB hấp thu làm cho nồng độ Cl– trong tế bào hấp thu ở hẽm tuyến cao tới mức hơn cả sự cân bằng hoá – điện học.
– Cùng lúc đó Na+ đi vào trong TB sẽ được bơm khỏi TB bởi men Na+ K+ ATPase.
– Nhiều chất trong TB kích thích quá trình bài tiết (như AMP vòng hoặc GMT vòng) làm tăng tính thấm của màng TB hẽm tuyến đối với Cl–à Cl– đạt đến ngưỡng nào đó à mở kênh phía lòng ruột à đi vào lòng ruột kéo nước thụ động từ máu vào lòng ruột.
Các yếu tố gây bệnh:
Yếu tố độc hại: các yếu tố liên quan tới các vi khuẩn đường ruột có liên quan tới khả năng gây ỉa chảy. Gồm có:
Độc tố tả: bài tiết bởi phẩy khuẩn tả nhóm 01 hoặc nhóm Non 01.
Độc tố kháng nhiệt, chịu nhiệt (LT-ST) bài tiết bởi E.coli. Những độc tố này tác động lên niêm mạc ruột, gây nên sự bài tiết bất thường vào lòng ruột.
Những độc tố ruột tương tự cũng được phát hiện: độc tố do Clostridium perfinger, Bacillus cereus, Salmonella tiphy tiết ra. Tác dụng của độc tố cũng được tìm thấy ở một số chủng VK khác như (Klebsiella, Aeromonas) nhưng vai trò gây bệnh chưa được rõ ràng.
Giúp VK cư trú trên bề mặt niêm mạc ruột như CF1 và CF2 ở các chủng ETEC.
Làm vi khuẩn dính được vào bề mặt niêm mạc ruột để gây bệnh. Được tìm thấy ở nhiều chủng Coli như EPEC.
Phá huỷ các tế bào ruột, xâm nhập vào tế bào, niêm mạc, niêm mạc ruột bài tiết. Tìm thấy ở các chủng:.
+ Shigella – Shigella dysenteriae.
+ Coli xâm nhập và không xâm nhập.
+ Chủng Coli 0157: H7. Gây hội chứng lị, gây viêm đại tràng chảy máu. HC tăng ure huyết và huyết tán.
Ngoài ra, nhiều VK còn có khả năng bài tiết các Cytotoxin nhưng cơ chế gây bệnh còn chưa được rõ ràng. Độc tố thần kinh gây triệu chứng nôn: ở tụ cầu vàng, B.Cereus. Liposaccharide ở thành tế bào: Cần thiết cho VK xâm nhập vào trong tế bào.
Những VK bị tách những yếu tố này không thể xâm nhập vào bên trong tế bào ở các tổ chức nuôi cấy.
Chẩn đoán mức độ mất nước rất quan trọng vì nó liên quan đến thái độ xử trí và chọn các phác đồ điều trị phù hợp với từng mức độ mất nước. Đối với BN nhi tiêu chảy cấp, đánh giá mức độ mất nước hoàn toàn dựa trên thăm khám lâm sàng là một bước đầu tiên quan trọng để quyết định tiến hành bù nước.
– Mất nước độ A: BN tiêu chảy cấp nhưng chưa có biểu hiện rõ mất nước trên lâm sàng.
Lượng nước mất < 5% trọng lượng cơ thể.
Những trẻ này cần được đề phòng mất nước xuất hiện, bằng cách điều trị tại nhà theo phác đồ A.
– Mất nước độ B: mất nước nhẹ và trung bình, mất nước có biểu hiện trên lâm sàng.
Lượng dịch mất bằng 5-10% trọng lượng cơ thể.
Khi mất nước nhẹ (5 – 6% trọng lượng cơ thể) trẻ chỉ khát nước.
Khi mất nước trung bình (7 – 10% trọng lượng cơ thể) trẻ vật vã, kích thích, khát nhiều và có đầy đủ các dấu hiệu mất nước trên lâm sàng.
Trẻ mất nước B cần được điều trị theo phác đồ B.
– Mất nước độ C: mất nước nặng, có thể mau chóng dẫn tới shock.
Lượng dịch bị mất > 10% trọng lượng cơ thể.
Nếu không được truyền tĩnh mạch kịp thời trẻ sẽ bị sốc do giảm khối lượng tuần hoàn. Cần được điều trị cấp cứu tại cơ sở y tế.
+Tiêu chảy:
Xảy ra đột ngột.
Phân lỏng nhiều nước, nhiều lần trong ngày (> 3 lần/ngày), có thể tới 10-15 lần.
Có thể phân có mùi chua.
Phân có thể lầy nhầy, trường hợp do lị phân có nước lẫn máu hoặc máu mũi.
+ Nôn:Thường xuất hiện đầu tiên trong các trường hợp do Rotavirus hoặc tiêu chảy do tụ cầu.
Nôn liên tục vài lần/ngày làm trẻ mệt, mất nước và điện giải.
+ Biếng ăn:
Có thể xuất hiện sớm hoặc khi trẻ tiêu chảy nhiều ngày.
Trẻ thường từ chối ăn thức ăn thông thường, chỉ thích uống nước.
+ Khai thác bệnh sử để đánh giá tình trạng mất nước:
Phát hiện các triệu chứng nôn, tiêu chảy trên 6 lần, tính chất phân lỏng toàn nước.
Bù ít hoặc không được bù nước bằng đường uống làm nguy cơ mất nước càng tăng thêm. Ngược lại, nếu trẻ vẫn được uống nước, được tiếp tục bú mẹ hay uống ORS tại nhà thì nguy cơ mất nước sẽ giảm bớt.
+ Toàn trạng: Quan sát tinh thần của trẻ góp phần chẩn đoán mức độ mất nước:
Trẻ tỉnh táo bình thường khi chưa mất nước.
Vật vã, kích thích quấy khóc khi có biểu hiện mất nước.
Trẻ mệt lả, li bì hay hôn mê khi mất nước nặng hoặc shock do giảm khối lượng tuần hoàn.
+ Khát nước:
Cho trẻ uống nước bằng cốc hoặc thìa và quan sát trẻ:
Trẻ uống bình thường hoặc trẻ uống nhưng không thích uống lắm hoặc từ chối uống khi chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng.
Trẻ khát nước: khi uống một cách háo hức, vồ lấy thìa hoặc cốc nước hoặc khóc ngay khi thôi cho trẻ uống nước
Trẻ không uống được hoặc uống kém do trẻ li bì hoặc bán mê khi bị mất nước nặng.
+ Mắt:
Mắt trẻ có thể bình thường, trũng hoặc rất trũng và khô so với bình thường của trẻ.
Cần chú ý hỏi lúc bình thường mắt trẻ có trũng không ?
+ Nước mắt:
Quan sát khi trẻ khóc to có nước mắt không ?
Trẻ khóc to thấy không có nước mắt là trẻ mất nước trung bình
+ Miệng và lưỡi:
Dùng ngón tay khô và sạch sờ vào lưỡi và trong miệng trẻ để khám.
Nếu trẻ mất nước thì khi rút tay thường khô không có nước bọt.
+ Độ chun giãn của da:
Khi véo da thành nếp ở vùng bụng và đùi rồi bỏ ra, nếp véo da thường mất nhanh.
Khi nếp véo da mất chậm ( hoặc rất chậm > 2 giây) là biểu hiện của mất nước nặng.
Ở trẻ bụ bẫm, lớp mỡ dưới da dầy nên khó phát hiện độ chun giãn giảm, ngay cả khi trẻ mất nước nếp véo da vẫn mất nhanh.
Ngược lại, ở trẻ suy dinh dưỡng teo đét thì nếp véo da vẫn mất chậm khi trẻ không có dấu hiệu mất nước.
+ Thóp trước:
Trẻ mất nước nhẹ và trung bình: thóp trước lõm hơn bình thường.
Trẻ mất nước nặng: thóp trước rất lõm.
+ Chân tay:
Bình thường, bàn chân, tay trẻ ấm, và khô, móng tay có màu hồng.
Khi mất nước nặng và shock, bàn tay, chân trẻ lạnh, ẩm, móng tay nhợt, da nổi vân tím.
+ Mạch:
Khi mất nước nặng: mạch quay nhanh và yếu.
Khi shock do giảm khối lượng tuần hoàn: mạch quay không bắt được (nhưng vẫn có thể còn bắt được mạch bẹn).
+ Thở:
Trẻ thở nhanh khi mất nước nặng và toan chuyển hoá
Cần phân biệt trẻ thở nhanh khi viêm phổi: có ho và co kéo lồng ngực, nghe phổi có ran.
Nuôi dưỡng trẻ trước khi bị ốm: bú mẹ, ăn sữa công nghiệp, ăn nhân tạo, nuôi dưỡng trẻ trong khi bị tiêu chảy.
Trẻ bình thường.
Trẻ suy dinh dưỡng protein năng lượng, Marasmus hoặc Kwashiorkor.
Biểu hiện thiếu vitamin A: quáng gà, vệt bitot, khô và loét giác mạc.
Trẻ tiêu chảy có thể bị nhiễm khuẩn phối hợp hoặc bị sốt rét nếu ở các vùng có dịch sốt rét lưu hành tại địa phương.
Hoặc ở trẻ nhỏ mất nước có thể gây sốt.
a) Điện giải đồ: Xác định tình trạng rối loạn điện giải. b) Công thức bạch cầu: BC đa nhân trung tính tăng cao trong bệnh nhiễm khuẩn. c) Soi phân:Tìm hồng cầu, bạch cầu trong trường hợp tiêu chảy xâm nhập hoặc lị.Tìm kí sinh khuẩn. d) Cấy phân: Thường ít giá trị chẩn đoán và điều trị vì kết quả muộn.
+ Rối loạn natri
Hạ natri :
Na<125mEq/L : ói , co rút cơ, lơ mơ
Na< 115mEq/L: hôn mê , co giật
Tăng natri: khi Natri máu >145 mEq/L
+ Rối loạn kali máu:
Hạ kali máu : Kali<3.5mEq/L
cơ: yếu cơ , yếu chi, liệt ruột, bụng chướng
tim: chậm tái phân cực của tâm thất : ST xẹp , T giảm biên độ, xuất hiện sóng U. Nếu giảm kali máu quá nặng :PR kéo dài, QT dãn rộng , rối loạn nhịp ( giống ngộ độc digitalis)
tăng kali máu : Kali>5mEq/L cơ : yếu cơ tim: T cao nhọn ,QT ngắn (K+=6.5mEq/L) block A-V, rung thất ( K+>9 mEq/L)
pH máu động mạch<7.2,HCO3<15mEq/L, nhịp thở nhanh sâu.
Hạ đường huyết: đường huyết <45mg%
Suy thận cấp:BUN, Creatinin/máu tăng
Bốn chiến lược phòng bệnh tiêu chảy cấp đã được chương trình phòng chống tiêu chảy cấp khuyến cáo và áp dụng trên toàn cầu là:
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đến 4 – 6 tháng tuổi (vì sữa mẹ vệ sinh, có kháng thể, không dị ứng cho trẻ, rẻ tiền mà lại đầy đủ các chất dinh dưỡng).
Chỉ ăn sam sau 4-6 tháng tuổi nếu mẹ đủ sữa.
Thành phần thức ăn được chia theo ô vuông thức ăn: glucid, protid, lipid, vitamin và muối khoáng.
Ăn thức ăn giàu chất dinh dưỡng.
Bảo quản và chế biến thức ăn hợp lý, hợp với khẩu vị của trẻ.
Đảm bảo vệ sinh.
Dùng nước sạch, đủ nước.
Bảo quản nước tốt, có nắp đậy .
Nước sinh hoạt phải xa chuồng gia súc, hố xí, cống thoát, rãnh thải; tránh dùng nước bị ô nhiễm.Nước uống phải được đun sôi; bình đựng có nắp; cốc, chén, thìa rửa sạch khô ráo.
Tất cả thành viên gia đình phải thực hiện rửa tay trước khi ăn, rửa tay bằng xà phòng sau khi đi đi tiêu, hoặc dọn, rửa phân cho trẻ…
Rửa tay trước khi làm thức ăn cho trẻ.
Sử dụng hố xí hợp vệ sinh.
Xử lý phân, nước, rác an toàn; xa nguồn nước sử dụng.
Theo khuyến cáo của chương trình tiêm chủng mở rộng .
Đặc biệt là tiêm phòng sởi. Trẻ mắc sởi hoặc sau khi mắc sởi khỏi dễ mắc bệnh tiêu chảy, lỵ nặng gây tử vong.
Khi tiêm phòng sởi đầy đủ trẻ có thể phòng ngừa được 25% tử vong có liên quan đến tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi .
- Theo sách Nội Kinh: Phân lỏng, loãng, khi đi khi ngừng rồi lại đi, số lần đi thưa, gọi là Tiết. Phân lỏng, loãng, đi xổ ra như dội nước hoặc nước chảy, gọi là Tả.Trong Tiết có Tả, trong Tả có Tiết, vì vậy thường đươc nêu ra 8 loại Tiết tả:
Thấp tả: còn gọi là Động Tiết hoặc Nhu Tiết, chủ yếu do Thủy Thấp trở trệ ở Vị Trường, Tỳ hư không ức chế nổi thủy gây ra. Thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận (Tố Vấn 5) ghi: "Thấp thắng thì Nhu Tả".
Thử Tả: tiêu chảy do cảm nhiễm Thử tà.
Nhiệt Tả: cũng gọi là hỏa Tả, do nhiệt tà dồn ép ở đại trường.
Hàn Tả: tiêu chảy do nội tạng hư hàn gây ra.
Thực Tả: tiêu chảy do ăn uống gây ra (Thiên ‘Tỳ Luận’ Tố Vấn 43).
Hư Tả: tiêu chảy lâu ngày do Tỳ Thận dương hư.
Sau này, đời nhà Tùy (581- 618), Sào Nguyên Phương trong sách "Chư Bịnh Nguyên Hậu Luận còn nêu ra: Vụ đường: thuộc loại Hàn tả còn gọi là Áp đường, Vụ tiết, vì khi đại tiện nước và phân ra lẫn lộn, màu xanh đen như phân vịt (áp), phân cò (vụ). Sôn tiết: một loại tiêu chảy do Can uất, Tỳ hư. Ngũ canh tiết tả cũng gọi là Kê Minh Tiết Tả vì thường tiêu chảy vào lúc canh năm (Ngũ canh) lúc gà gáy (Kê Minh) hoặc Thần tả (Thần- sáng sớm) hoặc Thận Tiết (vì nguyên nhân do Thận Dương hư gây ra). Ngũ tiết: 5 loại tiêu chảy, 5 loại này có 2 cách giải nghĩa: Nan thứ 57, sách Nan Kinh ở mục ‘Ngũ Tiết Thương Hàn’ nêu ra: Vị tiết, Tỳ Tiết, Tiểu Trường Tiết, Đại Trường Tiết, và Đại Hà Tiết . -Sách “Bình Trị Hội Túy” của Chu Chấn Hanh lại nêu ra 5 loại: Sôn tiết, Đường Tiết, Vụ Tiết, Nhu Tiết, Hoạt Tiết. -Hải Thượng Lãn Ông trong sách ‘Bách Bịnh Cơ Yếu’ phân ra 10 loại tả: Thấp tả, Nhiệt tả, tả do tạng hàn, Phong tả, Thử tả, Thực tả, Hỏa tả, tả do thất tình nội thương. - Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ chia làm 6 loại: Nhiệt (thử) tả, Hàn tả, Thấp tả, Thực tả, Tỳ hư tả, Thận hư tả. - Đời nhà Đường (618 - 906) các thầy thuốc gọi chung là Hạ Lợi. - Đời nhà Tống (906 - 1276) mới gọi là Tiết Tả.
Sách “Nội Khoa Học” của Trung Y Thượng Hải và Thành Đô đều đưa ra 5 nguyên nhân sau:
Cảm Phải Ngoại Tà: do Phong, Hàn, Thử, Nhiệt, Thấp (chủ yếu là do Thấp) làm Tỳ Vị bị tổn thương, mất chức năng kiện vận, không phân biệt được trong đục, thăng giáng thất thường, gây ra tiêu chảy. Thiên:”Cử Thống Luận”(Tố Vấn 39) ghi: ”Hàn khí xâm phạm vào Tiểu Trường, Tiểu Trường mất chức năng gây ra bụng đau, tiêu chảy" .Sách “Minh Y Tạp Trứ” ghi: ”Vào mùa Hè, Thu, Thấp nhiệt thịnh hành bỗng (đột nhiên) tiêu chảy như dội nước”.
Do Ăn Uống Không Đều làm cho thức ăn đình trệ lại hoặc ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ (béo), sống, lạnh làm cho Tỳ Vị bị tổn thương không vận hóa được. Sách “Cảnh Nhạc Toàn Thư” ghi: ” Ăn không điều độ, ở không thích nghi, Tỳ Vị tổn thương, thủy biến thành thấp, thực (thức ăn) biến thành trệ, tinh hoa không chuyển hóa dẫn đến tiêu chảy”. Sách "Đan Khê Tâm Pháp” ghi: ” Chứng thực tả là do ăn uống quá nhiều, làm tổn thương Tỳ Vị gây ra tiết tả”.
Do Tỳ Vị Dương Hư (NKHT.Hải), Tỳ Vị hư yếu (NKHT. Đô) Tỳ Vị Hư Hàn (TYNKHG. Nghĩa): do Tỳ Vị mất chức năng vận hóa (do suy yếu, do dương hư, do bị hàn tà...) làm thức ăn bị đình trệ, tỳ khí bị hạ hãm, thanh khí không thăng, hoặc trung dương không đủ, không vận hóa được thủy cốc, âm hàn nhiều làm hại Tỳ Vị, gây ra tiêu chảy.
Thận Dương Hư Yếu (T.Đô và TYNKHG. Nghĩa) hoặc Mệnh Môn Hỏa suy: Do bịnh lâu ngày hoặc ỉa lỏng kéo dài, làm cho Thận Dương bị tổn thương, không ôn được Tỳ, làm Tỳ Dương suy, gây ra tiêu chảy. Sách “ Cảnh Nhạc Toàn Thư” ghi:’ Vị là quan ải của Thận, Thận khai khiếu ở tiền và hậu âm, Thận chủ chức năng đóng mở. Nếu Thận Dương suy, Mệnh Môn Hỏa suy, âm hàn nhiều gây ra tiêu chảy’.
Do Tình Chí Không Đều: Do Can Uất Khí Trệ, Can Mộc khắc Tỳ Thổ hoặc do Tỳ Khí hư yếu, Can Khí thừa cơ xâm phạm, làm cho Tỳ Suy yếu, vận hóa kém, gây ra tiêu chảy.
Triệu Chứng : bụng đau, bụng sôi, phân lỏng và nát, nóng lạnh, đầu đau, cơ thể đau nhức, rêu lưỡi trắng, mạch Phù .
Pháp trị: giải biểu, tán hàn, hóa trọc, chỉ tả.
Dùng bài Hoắc Hương Chính Khí Tán (Hòa Tễ Cục Phương):
Hoắc hương 12g, Bán hạ khúc 12g, Trần bì 6g, Tô diệp 8g, Phục linh 12g, Cát cánh 6g, Bạch chỉ 6g, Đại phúc bì 8g, Cam thảo 4g, Bạch truật 8g, Hậu phác 8g.
Triệu Chứng: bụng đau, tiêu chảy, phân vàng, mùi hôi, hậu môn nóng rát, khát, buồn bực, tiểu ít, đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt, sác .
Pháp trị: Đạt biểu, thanh lý
Dùng bài Cát Căn Cầm Liên Thang (Thương Hàn Luận)
Cát căn 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng liên 8g, Cam thảo 4g, Sắc uống.
Triệu Chứng : bụng đau và sôi, tiêu chảy, phân nát, mùi thối, bụng tức, trướng, ợ chua, hôi, rêu lưỡi dầy, nhờn, mạch Hoạt Sác .
Pháp trị: hoà trung, đạo trệ
Dùng bài Bảo Hòa Hoàn.(Đan Khê Tâm Pháp):
Sơn tra 240g, Lục khúc 80g, Bán hạ 120g, Phục linh 120g, Trần bì 40g, Thái (Lai) phục tử 40g, Liên kiều 80g. Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 12- 24g.
Triệu Chứng : đại tiện lúc lỏng, lúc bón, ăn không tiêu bụng đầy, chán ăn, tinh thần mệt mỏi, không muốn nói, sắc mặt vàng úa, lưỡi nhạt, rêu lưỡi ít, mạch Hoãn Nhược.
Pháp trị : kiện Tỳ, hóa thấp.
Dùng bài Sâm Linh Bạch Truật Tán (Cục Phương):
Nhân sâm 96g, Biển đậu (sao) 96g, Trần bì 64g, Bạch truật (sao đất) 80g, Chích thảo 64g, Ý dĩ (sao) 64g, Phục linh 64g, Liên nhục (sao, bỏ tim) 96g, Cát cánh 64g, Hoài sơn (sao) 64g, Sa nhân 64g. Tán bột. Ngày uống 16 - 20g với nước Táo sắc hoặc nước cơm.
Triệu Chứng : tiêu chảy, phân xanh, nát, ăn ít, bụng đầy, khát, thích uống nóng, ói mửa, ợ hơi, tay chân không ấm, bao tử đausáng sớm bụng đau vùng rốn, bụng sôi, ỉa xong thì đỡ đau, bụng lạnh, tay chân lạnh, sợ lạnh, lưỡi trắng nhạt, mạch Trầm Tế.
Pháp trị : ôn Thận, kiện Tỳ
Dùng bài Tứ Thần Hoàn (Nội Khoa Trích Yếu)
Bổ cốt chỉ 160g, Nhục đậu khấu 80g, Ngũ vị tử 80g, Ngô thù du 40g. Thêm Táo (bỏ hột lấy nhục) 240g. Tán bột. Dùng Sinh Khương sắc nước làm thang, trộn thuốc bột làm hoàn. Ngày uống 20 - 24g.
Triệu Chứng: hông bụng đầy trướng, ăn ít, ợ hơi, khi buồn, tức, tinh thần căng thẳng thì bụng đau, tiêu chảy, lưỡi đỏ nhạt, mạch Huyền.
Pháp trị ; ức Can, kiện Tỳ.
Dùng bài Thống Tả Yếu Phương (Cảnh Nhạc Toàn Thư):
Bạch Truật (sao với đất cho vàng) 12g, Trần bì 8g, Bạch thược (sao) 12g, Phòng phong 8g. Sắc uống.
Triệu Chứng : ăn ít, đại tiện nhiều, chóng mặt, tai ù, cơ thể uể oải, tinh thần mệt mỏi, chân và gối không có sức hoặc lưng đau, tiểu đêm, lưỡi nhạt, rêu lưỡi ít, mạch Hư Nhược.
Pháp trị: Kiện tỳ ích khí
Dùng bài Tứ quân tử thang (Hoà tễ cục phương):
Nhân sâm 15g Phục linh 10g Bạch truật 15g Cam thảo 6g trần bì 10g bán hạ 10g
+ Sách YHCT dân tộc: giải biểu, tán hàn giới thiệu 2 bài sau:
a.Sa nhân 4g, Hoắc hương 8g, Biển đậu 12g, Hương nhu 8g, Xa tiền tử 8g, Rau má 10g, Thêm gừng 3 lát (sao vàng). Sắc uống.
b Hoắc Hương 12g, Hậu phác (nam) 12g, Hương phụ 8g, Sa nhân 8g, Trần bì 8g, Hạt vải 8g, Mộc hương (nam) 8g. Sắc uống.
- Sách TBTYKN Phương dùng bài Sơ Tả Hóa Trọc Pháp: Đại đậu quyển 12g, Lục khúc (sao) 12g, Xa tiền tử (sao) 12g, Ý dĩ nhân 20g, Xích linh 12g, Cát cánh 4g, Biển đậu (vỏ) 8g, Bội lan 8g, Hà diệp 1 lá, Sơn chi (vỏ) 8g, Chỉ xác (sao) 8g. Sắc uống.
- Sách TBTYKN Phương dùng bài Ngũ Linh Pháp gia vị: Bạch truật (sao đất) 12g, Quan quế 8g, Phục linh 12g, Hương nhu 6g, Trư linh 12g, Xuyên phác 6g.
(Đây là bài Ngũ Linh Tán bỏ Trạch Tả, thêm Hương Nhu và Hậu Phác)
- Sách NKHT. Đô giới thiệu 1 số bài thuốc đơn giản sau:
+ Hoàng Liên 12g, Tỏi 4 trái, nghiền nát. Phân làm 3, uống với nước.
+ Hoàng Liên 8g, Hậu phác 12g. Sắc uống.
+ Rau Má 60g, Xa Tiền 30g. Sắc uống.
- Sách TBTYKN phương dùng bài Túy Hương Ngọc Tiết: Thương truật 6g, Chích thảo 6g, Xa tiền tử 8g, Xuyên liên 6g, Đinh hương 1,6g, Trạch tả 8g, Quảng bì (sao) 6g, Sa nhân 6g, Kê nội kim 2 cái. Sắc uống..
- Sách NKHT. Đô giới thiệu một số bài thuốc đơn giản sau:
+ Bạch truật (sao), Phục linh đều 30g, Nhu mễ (sao) 60g, Tán bột. Mỗi lần dùng 6g với nước sắc Đại táo, ngày 3 lần.
+ Hoàng kỳ, Đảng sâm, Nhu mễ, Thảo căn đều 30g, Sắc uống.
-NKHT. Đô: bổ Thận cố Tỳ - dùng bài Song Bổ Hoàn (Y Phương Loại Tụ): Lộc giác sương 120g, Nhân sâm 40g, Thạch hộc 40g, Thục địa 40g, Mộc qua 40g, Đương quy 40g, Trầm hương 40g, Ý dĩ nhân 40g, Trạch tả 40g, Thỏ ty tử 40g, Chích kỳ 40g, Xạ hương 4g, Phúc bồn tử 40g, Thung dung 40g, Chu sa 20g, Bạch linh 40g, Ngũ vị tử 40g. Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 16 - 20g với nước muối, lúc đói.
- Sách Thiên Gia Diệu Phương: ôn bổ mệnh môn, ôn Tỳ Vị, sáp trường, dùng Tứ Thần Hoàn gia vị: Bổ cốt chỉ 12g, Ngô thù du 16g, Trần bì 6g, Hoàng kỳ 12g, Nhục khấu 6g, Thạch lựu bì 6g, Đảng sâm 12g, Ngũ vị tử 6g, Phụ tử 6g, Phục linh 10g, Quế chi 6g, Ô mai 3 quả, Bạch truật 10g. Sắc uống.
- Tứ Nghịch Ích Hoàng Thang (TGDPhương): Xuyên Phụ tử 40g, Bạch truật 12g, Nhục quế 12g, Can khương 16g, Bán hạ (chế) 10g, Nhục khấu 12g, Đảng sâm 20g, Phục linh 12g, Ô mai 12g, Cam thảo 8g, Đinh hương 4g, Thiên Sinh Khoáng 4g.
(Phụ Tử phải dùng nước sôi sắc riêng trước 2- 3 giờ, dùng lưỡi nếm không thấy tê làm chuẩn. Thiên Sinh Khoáng tức Lưu Huỳnh Thăng Hoa Thiên Nhiên, phải chia làm 2 lần, nuốt riêng, Nhục Khấu phải nướng nóng cho khử hết dầu mới dùng).
- Sách TBTYKN Phương dùng bài Ích Hỏa Phù Thổ Phương: Bạch truật (sao đất) 12g, Trần bì 6g, Bổ cốt chỉ 12g, Ích trí nhân 12g, Bào khương 3,2g, Mễ xác 6g, Mộc hương 3,2g, Kha tử bì 6g, Bội lan (lá) 6g, Phục linh 12g, Cam thảo 4g, Cốc nha 12g. Sắc uống.
-NKHT. Đô: phù Thổ ức Mộc. Dùng bài Sài Thược Lục Quân Tử Thang.
- Sách TGDPhương dùng bài Tiêu Thực Thang gia giảm: Đảng sâm 20g, Mạch nha 16g, Thạch bì 12g, Bạch truật 16g, Trần bì 12g, Kê nội kim 16g, Phục linh 16g, Trúc nhự 16g, Đại hoàng (tửu) 4g, Thần khúc 16g, Sa nhân 8g, Cam thảo 6g. Sắc uống.
+ Cấp tính: Sơ điều khí trường vị. Châm Trung quản, Thiên xu, Túc tam lý, Âm lăng tuyền ( Trung quản là mộ huyệt của Vị, Thiên xu là mộ huyệt của Đại Trường, dùng 2 huyệt này để điều chỉnh khí của trường vị, Túc tam lý thông điều Vị khí, Âm lăng tuyền để sơ điều kinh khí của Ty).
+ Mạn tính: Điều bổ trung khí Tỳ Vị ôn bổ Thận Dương, cứu Tỳ du, Trung quản, Chương môn, Thiên xu, Túc tam lý hợp với Mệnh môn, Quan nguyên (Tỳ du và Chương môn là phối hợp Du + Mộ huyệt để điều bổ Tỳ Vị; Thiên xu và Túc tam lý để hỗ trợ trung khí; Mệnh môn, Quan nguyên để bổ Mệnh Môn hỏa, tráng Thận dương, ôn dưỡng Tỳ Thận.
+ Hàn tả: Thiên xu, Khí hải, Trung quản, Đại trường du (đều cứu)
+ Nhiệt Tả: Hạ quản, Hợp cốc, Nội đình (đều tả)
+ Thấp tả: Tỳ du, Thủy phân (đều cứu), Âm lăng tuyền, Công tôn (đều tả).
+ Thận tả: Mệnh môn, Quan nguyên, Bá hội (đều cứu) Thận du, Tỳ du (đều bổ).
-TS. Kinh: Quan nguyên, Thái khê.
-LKĐ.Dực: Thận du, Thủy phân, Thiên xu, Thần khuyết.
* Cấp tính: Vị du, Tam tiêu du, Khí hải du, Đại trường du, Quan nguyên du,Túc tam lý, Tam âm giao.
* Mạn tính: Tam tiêu du, Khí hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, Tiểu trường du, Thiên xu, Đại cự, Hành gian, Túc tam lý, Tam âm giao.
- CCTập Thành: Đại đô, Côn lôn, Kỳ môn, Âm lăng tuyền, Trung quản.
- CCHG Biên: Đại hoành, Thiên xu, Trung quản, Quan nguyên, Túc tam lý, Tam âm giao, Tiểu trường du, Đại trường du.
- TQCCHK. Yếu : Thiên xu, Đại trường du, Túc tam lý.
- TQCC. Học: Thận du, Tỳ du, Trung quản, Thiên xu, Công tôn, Thái khê (trị Thận Tả).
- TBGTCC. Học :Tỳ du, Trung quản, Chương môn, Thiên xu, Túc tam lý.
- Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí số 12/1985: Thiên xu (2 bên), Nội quan (2 bên), Tam âm giao (2 bên).
- Nội Gia Cát Trung Y Viện số 32/1986: chỉ châm huyệt Túc tam lý trị Hàn tả.
- Tân Cương Trung Y Dược số 51/1986 dùng cách cứu trị tiêu chảy
+ Tỳ Vị Hư: Túc tam lý, Thiên xu, Ẩn bạch, hoặc Túc tam lý, Ẩn bạch, Trung quản.
+ Thận Âm hư yếu: Nhiên cốc, Khí hải, Túc tam lý, Ẩn bạch, Thận du, Tỳ du, Thủy phân, Trung quản. Hoặc Túc tam lý, Thạch môn, Nhiên cốc, Trung quản.
+ Do ngoại cảm: Phát Hãn, giải cơ, châm tả, Phong môn, Đại chùy, Thiên xu, Hợp cốc.
+ Do Hàn: sơ tán hàn thấp, châm nông + cứu Phong môn, Liệt khuyết, Thiên xu, Phong trì, Trung quản.
+ Do Thử: thanh thử lợi thấp, châm tả Hợp cốc, Thiên xu, Túc tam lý, Nội quan, Đại lăng.
+ Do Thấp ôn hóa thủy thấp: châm bình bổ bình tả + cứu Tỳ du, Trung quản, Âm lăng tuyền, Phong long, Túc tam lý, Công tôn.
+ Do Hỏa: thanh nhiệt, tiết hỏa: châm tả Hạ quan, Hợp cốc, Nội đình, Thiên xu, Khúc trì.
+ Do Tỳ hư: kiện Tỳ, dưỡng Vị, châm bổ + cứu Tỳ du, Chương môn, Trung quản, Khí hải, Túc tam lý.
+ Do Thực trệ: tiêu thực hóa trệ, châm tả Triển cơ, Túc tam lý, Trung quản, Nội quan.
+ Do Khí uất: điều hòa Can Tỳ, châm tả Tỳ du, Chương môn, Thái xung, Túc tam lý, Kỳ môn.
+ Do Thận hư: ôn bổ Tỳ Thận, châm bổ + cứu Tỳ du, Mệnh môn, Quan nguyên.
Nguyên tắc điều trị. Mục đích: giải quyết 2 hậu quả chính: mất nước và mất dinh dưỡng.
Dựa trên 3 nguyên tắc:
+ Bù nước và điện giải.
+ Hồi phục dinh dưỡng.
+ Điều trị nguyên nhân.
Tiêu chảy cấp mất nước A:
- Điều trị tại nhà.
Cho trẻ uống nước và điện giải nhiều hơn bình thường.
Tốt nhất là sử dụng Oresol, nếu không có thể thay bằng nước cháo muối, nước gạo rang.
1 gói ORS pha với 1 lít nước sôi để nguội, có thể để được trong 24 giờ.
1 gói ORS có : 20g glucose, 3,5g natri clorua, 1,5g kali clorua, 2,5 g natri bicarbonat).
- Số lượng dịch:
+ Trẻ < 2 tuổi: 50 ml sau mỗi lần tiêu chảy.
+ Trẻ 2 – 10 tuổi: 100-200 ml sau mỗi lần tiêu chảy.
+ Trẻ > 10 tuổi: uống tới lúc trẻ hết khát.
Tiêu chảy cấp mất nước B:
Tiêu chảy cấp mất nước mức độ B là trường hợp tiêu chảy mất nước vừa và nhẹ, trẻ cần được uống ORS để điều trị tình trạng mất nước.
Cần được theo dõi tại cơ sở y tế.
Bồi phụ nước điện giải bằng uống ORS
– Lượng ORS cho uống trong 4 giờ đầu (ml):
Số lượng nước (ml) uống trong 4 giờ = Cân nặng bệnh nhi (Kg) x 75 ml
– Cách cho uống:
+ Trẻ < 2 tuổi cho uống từng thìa, cứ 1-2 phút 1 thìa, trẻ lớn cho uống từng ngụm bằng cốc.
+ Nếu trẻ nôn cho ngừng uống 10 phút sau đó cho uống chậm hơn: uống từng thìa cách nhau 2 – 3 phút.
+ Nếu mi mắt trẻ nề: ngừng cho uống ORS, cho uống nước hoặc bú mẹ. Khi hết dấu hiệu này tiếp tục dùng ORS theo phác đồ A.
– Sau 4 giờ đánh giá lại tình trạng mất nước
+ Nếu hết triệu chứng mất nước chuyển sang phác đồ A.Nếu còn dấu hiệu mất nước vừa và nhẹ thì tiếp tục theo phác đồ B.
+ Nếu nặng thì chuyển sang phác đồ C.
Tiêu chảy cấp mất nước C:
– Tiêu chảy cấp mức độ C là tình trạng mất nước nặng cần được truyền dịch nhanh, kịp thời và chăm sóc đặc biệt.
– Nếu chậm sẽ có dấu hiệu shock do giảm khối lượng tuần hoàn dẫn tới tử vong. Biểu hiện: li bì, hôn mê, chân tay lạnh, vã mồ hôi, mạch quay không bắt được.
Bồi phụ nước điện giải:
– Sử dụng dung dịch Ringer Lactat hoặc muối sinh lý (NaCl 0,9%), Darron hoặc dung dịch pha 1/2 dung dịch dextrose + 1/2 Glucose 5%.
– Tuyệt đối không được dùng dung dịch Dextrose và Glucose đơn thuần.
– Sau 30 phút truyền đầu tiên, đánh giá lại BN: M, huyết áp, nhịp thở, các dấu hiệu mất nước.
+ Nếu mạch còn yếu thì truyền lần thứ hai tiếp 30 ml trong 1 giờ (với trẻ < 12 tháng) hoặc trong 30 phút đối với trẻ lớn hơn với tốc độ như lần đầu.
+ Nếu mạch bắt được dễ dàng thì truyền sang giai đoạn hai (70 ml/kg).
– Nếu không thể truyền TM được:
+ Đặt ống sonde dạ dày, cho ORS với số lượng 20ml/kg/giờ (tổng số 120 mg/kg) và chuyển BN đến nơi có thể truyền TM được.
+ Nếu cũng không đặt được sonde dạ dày: cho trẻ uống ORS 20 ml/kg/giờ – 1 thìa ORS/phút (nếu trẻ có thể uống được)
+ Nếu trẻ bị chướng bụng thì không nên cho trẻ dùng hai cách trên.
– Ngay khi BN có thể uống được hãy cho uống ORS.
– Đánh giá lại BN :
+ Hàng giờ phải theo dõi, đánh giá lại các triệu chứng mất nước.
+ Nếu dấu hiệu mất nước không cải thiện hoặc xấu đi, đi ngoài nhiều, phân nhiều nước à tăng thể tích và tốc độ truyền.
+ Cuối giai đoạn bù nước, đánh giá lại:
Nếu còn mất nước nặng là theo phác đồ C. Nếu hết mất nước nặng là sang phác đồ B hoặc A. Trước khi thôi truyền cần cho trẻ uống ORS để đảm bảo trẻ có thể uống được. + Nếu có rối loạn điện giải (tăng, giảm Na+, tăng giảm K+ ) và rối loạn toan kiềm à chẩn đoán và điều trị phù hợp.
* Note: Bù nước không hiệu quả do
Mất nước quá nặng.
Tiêu chảy nặng
Nôn tái phát nặng.
Chướng bụng, liệt ruột do chống nôn, cầm ỉa.
Kém hấp thu Glucose (càng uống nhiều càng mất nước).
Khi tình trạng mất nước đã được cải thiện, trẻ có nhu cầu ăn hãy cho trẻ ăn trở lại:
+ Nếu trẻ bú mẹ thì tiếp tục cho bú.
+Trẻ trên 6 tháng hoặc đã ăn thức ăn đặc: cho ăn thức ăn chế biến từ ngũ cốc, thêm đậu rau, thịt cá, dầu thực vật.
Không cho trẻ kiêng khem, nhịn ăn, phải đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng.
Khi các dấu hiệu mất nước đã dần hết: cho trẻ dần trở lại chế độ ăn bình thường càng sớm càng tốt.
Sau khi khỏi, cần cho ăn thêm mỗi ngày 1 bữa (ngoài các bữa ăn bình thường) trong thời gian 2 tuần để trẻ lấy lại cân nhanh chóng.
– Chỉ định trong một số trường hợp: tả nặng, phân nhày máu mũi, hoặc thấy ký sinh trùng như amip, giardia.
– Kháng sinh không được chỉ định đứng còn làm tiêu chảy kéo dài.
– Thường dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ.
– Lỵ trực khuẩn (phân có máu mũi):
+ Trimethoprim 10 mg/kg/ngày + Sulphamethoxazole 50 mg/kg/ngày chia 2 lần/ngày ´ 5 ngày.
+ Sau 3 ngày không đỡ có thể thay bằng A.Nalidixic 60mg/kg/ngày chia 4 lần/ngày ´ 5 ngày.
– Lỵ amip (phân có máu mũi, soi tươi thấy amip thể hoạt động) :
+ Metronidazole (Flagyl, Klion): 30mg/kg/ngày x 5 ngày. Hoặc
+ Hydroemetin 1mg/kg/ ngày x 5 – 10 ngày.
– Tả nặng:
+ Tetracyclin 50 mg/kg/24h chia 4 lần x 5 ngày (Doxycyline). Hoặc
+ Furazolidone 5 mg/kg/24h x 3 ngày.
– Đơn bào Giardia:
+ Metronidazole 30 mg/kg/ ngày x 5 – 10 ngày. Hoặc
+ Quinacrin 7 mg/kg/ ngày x 5 – 10 ngày.
Không được dùng thuốc chống nôn và cầm ỉa:
–Thuốc phiện, Imodium: làm giảm nhu động ruột, tăng liệt ruột, rối loạn sự chuyển hoá hấp thu nước-điện giải của liên bào ruột.
– Các loại Kaolin, Pectin, Tanin: bọc hút, hấp phụ làm giảm chuyển hoá và hấp thu của niêm mạc ruột.
Co giật:
+Cần tìm và điều trị theo nguyên nhân: hạ nhiệt khi sốt cao, chống rối loạn điện giải, hạ đường huyết..
+Dùng thuốc Diazepam 5mg hoặc Gardenal 0,04-0,06 g (tiêm bắp).
Chướng bụng: đặt sonde hậu môn, cho uống siro KCl 1-2mg/kg/ngày.
**************************************
|