Bài thuốc chữa bệnh - Banner
HOME MENU Bài thuốc chữa bệnh - Tìm kiếm

Thương hàn phó thương hàn

Chế độ ăn cho người bị cảm cúm

Đông y chữa bệnh thương hànĐại cương

Thương hàn là một bệnh lý toàn thân gây ra do nhiễm khuẩn Salmonellae Typhi hoặc Salmonellae Paratyphi nhóm C. Thường thì cơ thể phát sinh ra bệnh thương hàn sau khi ăn/uống phải thức ăn có chứa vi khuẩn. Vi khuẩn gây bệnh thương hàn đa phần được lây trực tiếp từ người sang người, phần còn lại lây lan qua các loại ngêu, sò, ốc, hến do nấu nướng không kỹ.

Bệnh phó thương hàn (paratyphoid fever) cũng có hình ảnh lâm sàng tương tự như bệnh thương hàn nhưng nhẹ hơn và tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều. Trường hợp bị nhiễm khuẩn thương hàn không có biểu hiện toàn thân mà chỉ có biểu hiện viêm dạ dày - ruột do vi khuẩn Salmonella typhimurium hoặc Salmonella enteritidis từ động vật nhiễm vào thực phẩm thì gọi là bệnh nhiễm khuẩn thức ăn do vi khuẩn Salmonella hoặc bệnh Salmonella.

Mầm bệnh

Tác nhân gây bệnh thương hàn gồm:

- Salmonella typhi (trực khuẩn Eberth).

- Salmonella paratyphi A, B và C.

Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae, là trực khẩn Gram âm, cỡ 2-3 X 0,4- 0, 6p,m, có khả năng kỵ khí tùy ý, di động nhờ lông chung quanh. Chúng có thể sống nhiều ngày trong nước, nhất là trong ao tù và trong hố phân, ngay cả trong rau cải, sò ốc hến. Bị tiêu diệt bởi ánh sáng mặt trời, sức nóng (đun sôi 55oC trong 30 phút), cồn 90oC, diệt chúng trong vài phút. Có 3 loại kháng nguyên bề mặt, tạo kháng thể chuyên biệt

- Kháng nguyên H: hoặc kháng nguyên lông (roi), dễ bị hủy bởi nhiệt.

- Kháng nguyên O: polysaccharide, hoặc kháng nguyên thân, bền với nhiệt.

- Kháng nguyên Vi: polysaccharide, có trong vỏ S. typhi và S. paratyphi C.

Một vài týp huyết thanh Salmonella gây các hội chứng lâm sàng chuyên biệt. Salmonella typhi thuộc nhóm huyết thanh D; S. paratyphi A, B và C thuộc nhóm A, B và C.

Salmonella có thể cấy trên những môi trường:

- Chọn lọc thấp: thạch deoxycholate và Mac Conkey.

- Chọn lọc vừa: SS (Salmonella-Shigella), hoặc thạch Hektoen.

- Chọn lọc cao: selenite với brillant green, thạch Bismuth sulííte.

- Tạo sắc chọn lọc mới: thạch CHROM và COMPASS (chuyên biệt hơn các môi trường khác).

- Canh cấy: Tetrathionate hoặc Tetrathionate với Brillant green, Selenite F.

Dịch tễ học

Bệnh thương hàn có tầm quan trọng về dịch tễ, nhất là ở các nước đang phát triển, nơi mà môi trường sống còn ô nhiễm nặng và chưa nâng cao được đời sống vật chất, văn hóa vệ sinh. Bệnh lây truyền gián tiếp hoặc trực tiếp theo đường tiêu hóa.

Nguồn lây

S. typhi và S. paratyphi A chỉ gặp ở người, nên bệnh chỉ xảy ra ở người

1.1. Người bệnh: thải hàng triệu vi khuẩn sống theo phân, thỉnh thoảng trong chất ói, đàm nhớt hoặc các dịch thể khác.

1.2. Người khỏi bệnh: còn có thể tiếp tục thải vi khuẩn sống theo phân thêm một thời gian.

1.3. Người lành mang trùng:

- Người không mắc bệnh thương hàn: có thể mang vi khuẩn và lây truyền bệnh.

- Người mang trùng kinh niên sau khi khỏi bệnh: khoảng 1-5%, gieo rắc mầm bệnh trong nhiều năm, nhất là những người có sỏi mật (thải đến 1011 vi khẩn /1g phân).

Cách lây truyền

Bệnh thương hàn lây theo đường “phân-miệng”, do ăn uống thực phẩm hoặc nước ô nhiễm phân người, hiếm khi do tiếp xúc trực tiếp (như nhân viên y tế mắc bệnh do vệ sinh bàn tay kém hoặc cầm bệnh phẩm xét nghiệm). Nước uống, sữa, rau cải,, sò-ốc-hến ... là những nguồn nhiễm thương hàn quan trọng, lây cho người ăn uống mà không đun nấu kỹ. Ruồi và các côn trùng khác có thể mang mầm bệnh từ phân vào thực phẩm, đôi khi gây thành dịch.

Cơ thể cảm thụ

- Tất cả lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đa số ở tuổi trẻ < 30 tuổi. Ở vùng lưu hành, trẻ con trên 1 tuổi là nguy cơ cao nhất mắc bệnh vì thiếu miễn dịch. Khi trẻ dưới 1 tuổi mắc thương hàn thì bệnh nặng và nhiều biến chứng hơn. Nam và nữ có tỉ lệ mắc bệnh xấp xỉ nhau.

- Người suy giảm miễn dịch, mắc bệnh liên quan hệ võng nội mô, hoặc có bất thường đường tiểu và đường mật, thì nguy cơ mắc bệnh thương hàn cao.

- Người mang trùng kinh niên thường ở nữ giới hơn nam giới và ở người già hơn trẻ.

SINH LÝ BỆNH

Liều nhiễm khuẩn

Nhiều nghiên cứu trên những người tình nguyện chứng tỏ số lượng vi khuẩn bị nhiễm càng nhiều thì tỉ lệ mắc càng cao và thời gian ủ bệnh càng ngắn.

Hornick và cộng sự đã cho những người tình nguyện uống lượng S. typhi sống, nhận thấy:

Bảng 1. Liều nhiễm khuẩn

Số vi khuẩn uống

Tỉ lệ mắc

Thời gian ủ bệnh

109

95%

5 ngày (3-32 ngày)

107

50%

7,5 ngày (4-56 ngày)

105

28%

9 ngày (6-33 ngày)

Trong các vụ dịch, số lượng S. typhi thấp (< 103) cũng gây bệnh.

Yếu tố quan trọng nhất làm giảm liều nhiễm khuẩn, thuận lợi cho sự xuất hiện bệnh, là thiếu độ acid dạ dày, phẫu thuật dạ dày, hay dùng thuốc chống acid.

Quá trình nhiễm khuẩn

Qua đường miệng, vi khuẩn thương hàn phải qua được hàng rào acid của dạ dày. Di chuyển vào ruột non, vi khuẩn phải vượt qua lớp chất nhờn và tránh thoát các dịch tiết của ruột, men tụy và muối mật. Tế bào Paneth tiết các peptid kháng khuẩn. IgA và chất nhờn ruột tiết ra cũng đóng vai trò ngăn ngừa Salmonella xuyên qua tế bào ruột. Cái đích đầu tiên là tế bào M (microfold), là tế bào thượng bì nằm trên mảng Peyer. Từ đó vi khuẩn xâm nhập nhanh vào đại tuần hoàn và gây bệnh toàn thân, nhờ khả năng sống được và tái tạo trong các đại thực bào.

Vào máu và cấy máu dương tính, với hầu hết mầm bệnh ở trong tế bào đơn nhân. Suốt thời gian ủ bệnh không triệu chứng, vi khuẩn nằm trong đại thực bào. Chỉ khi mầm bệnh phát triển mạnh, triệu chứng thương hàn mới xuất hiện. Trường phái Pháp (Reilly ...) chứng minh vai trò tác dụng của nội độc tố trong sinh lý bệnh của thương hàn. Nhưng thử nghiệm với Limulus không phát hiện được nội độc tố lưu hành trong máu bệnh nhân đang lúc cấy máu dương tính, nên trường phái Anh-Mỹ cho rằng các chất cytokine (gồm IL-1, IL-6, TNF-a, TNF-fí ...) do các đại thực bào tiết ra để đáp ứng với nhiễm khuẩn, mới là những hoạt chất chính gây ra các triệu chứng của bệnh thương hàn.

Sốt do chất gây sốt nội sinh, sản sinh từ đại thực bào. Gan lách lớn có lẽ do vi khuẩn sống hoặc sinh sản trong các tế bào lưới nội mô, sự huy động các tế bào đơn nhân và phát triển đáp ứng miễn dịch tế bào. Bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu giảm do vi khuẩn kích thích thực bào máu trong tủy xương và gan ... Cơ chế của các hội chứng thần kinh trung ương không được biết rõ, nhưng có lẽ cũng liên quan đến các chất cytokine phóng thích từ các đại thực bào nhiễm S. typhi.

Trong hầu hết các trường hợp, trực khuẩn thương hàn có ở túi mật, và được tiết theo mật vào đường ruột, làm cấy phân dương tính ở tỉ lệ cao vào tuần thứ 3 hay thứ 4 của bệnh. Một số mầm bệnh bị giữ lại ở thận và được thải theo nước tiểu (cấy dương tính).

Đáp ứng ký chủ và miễn dịch

Miễn dịch đối với S. typhi cần cả hai đáp ứng miễn dịch tế bào và dịch thể.

Hệ miễn dịch bẩm sinh cảm nhận nhiễm Salmonella xâm lấn bằng cách dùng các thụ cảm thể để biết những thành phần bảo tồn cuả cấu trúc vi khuẩn, gồm nhận biết lipopolysaccharide bởi Tlr4, lipoprotein vi khuẩn bởi thụ cảm thể 2 gống như Toll (Tlr2), và ílagelin bởi Tlr5. Hoạt hoá các thụ cảm thể này trên thực bào và thượng bì dẫn đến tổng hợp các cytokine điều hoà đáp ứng viêm và tạo nên đáp ứng miễn dịch chuyên biệt với kháng nguyên. Miễn dịch này có thể tạo bằng tiêm chủng. Sau khi nhiễm thương hàn, hầu hết đều miễn dịch, mắc thương hàn lần thứ hai hiếm thấy và thường thấy ở người có điều trị kháng sinh sớm.

GIẢI PHẪU BỆNH

Trong thương hàn, thương tổn vi thể trội nhất là tăng sinh các tế bào đơn nhân trong nhiều tổ chức, dẫn tới hạch bạch huyết lớn, lách lớn và các tổ chức bạch huyết trong ruột (mảng Peyer) phì đại, nhất là ở đoạn cuối hồi tràng. Trong tủy xương, gan và phổi, cũng có thể thấy tế bào đơn nhân tăng sinh. Hoại tử trong những mảng Peyer tăng sinh có thể kết hợp với ăn mòn mạch máu, ở những sang thương trong lòng ruột, dẫn tới xuất huyết, có thể lan sâu vào thành ruột, gây thủng, thường ở đoạn cuối hồi tràng.

Suốt thời gian bệnh, túi mật và đường mật thường bị nhiễm, nhưng thường không triệu chứng, đôi khi xảy ra viêm túi mật và trở thành người lành mang trùng mãn tính, nhất là ở bệnh nhân có sỏi mật. Tại gan có nhiều nốt thương hàn, với sự hiện diện của tế bào đơn nhân và đa nhân trung tính, bao quanh bởi thực bào và tế bào lympho. Biểu hiện vàng da được cho là do tẩm nhuận nhiều tế bào đơn nhân ở khoảng cửa và hoại tử tế bào gan, đôi khi có thể do viêm gan lan tỏa hoặc viêm túi mật. 

Sinh thiết hồng ban cho thấy hình ảnh tẩm nhuận những tế bào đơn nhân tại chỗ. Phẫu nghiệm tử thi quan sát được tế bào cơ tim bị hoại tử, thoái biến và tẩm nhuận mỡ. Sinh thiết thận cho thấy bệnh lý viêm cầu thận do phức hợp miễn dịch, với sự hiện diện của kháng nguyên Vi trong thành vi cầu thận.

LÂM SÀNG

Bệnh cảnh lâm sàng và thời gian bệnh thay đổi đáng kể từ người này đến người khác. Từ những thể nhẹ với sốt chỉ kéo dài 1 tuần, đến thể bệnh có thể kéo dài ít nhất 8 tuần nếu không điều trị. Trong thể điển hình, không điều trị bằng kháng sinh, bệnh kéo dài khoảng 4 tuần. Trường hợp đã được điều trị với kháng sinh, biểu hiện lâm sàng rất thay đổi.

Thời kỳ ủ bệnh

Điển hình 7-14 ngày, nhưng có thể thay đổi từ 5-21 ngày, tùy thuộc mầm

bệnh, tình trạng sức khỏe và miễn dịch của bệnh nhân.

Thời kỳ khởi phát

- Bệnh bắt đầu từ từ, thân nhiệt tăng đều hình bậc thang để tới 400 C trong

1 tuần, mạch không tăng theo. Kèm theo các triệu chứng ớn lạnh, mệt mỏi, nhức đầu, mất ngủ, đau bụng, biếng ăn, bón, đôi khi tiêu chảy, chảy máu cam, ho khan. Khám thấy lưỡi dơ, bụng chướng hơi, hố chậu phải lạo xạo và lách có thể lớn.

- Đôi khi bệnh bắt đầu rất nhanh, sốt cao đột ngột, kèm nôn ói, tiêu chảy. Hoặc bệnh có thể bắt đầu với một biến chứng, tiêu hoá hay tim.

Thời kỳ toàn phát

- Sốt giữ hình cao nguyên ở mức giữa 39oCvà 40oC, nhưng mạch không tăng theo (phân ly mạch nhiệt < 50% trường hợp).

- Kết hợp với buồn ngủ, lơ mơ, li bì (tuphos) rõ, vào ban ngày, nhưng đêm lại mất ngủ và bứt rứt.

- Tiêu chảy hơi nhiều, phân lỏng, hơi vàng, bụng đau dai dẳng.

Khám thấy lưỡi còn dơ, bụng nhạy cảm, hố chậu phải lạo xạo, lách lớn. Gan đôi khi to. Ban hồng, đường kính 2-4 mm, thấy ở đáy ngực và phần trên bụng, là các ban dát sẩn đỏ, chỉ kéo dài 2-4 ngày. Hiếm hơn, nghe ran phế quản ở hai đáy và ngay cả viêm họng Duguet, là các vết loét cạn nhỏ ở cột trụ trước màng hầu. Đôi khi thấy vàng da niêm, xuất huyết dưới da ... Bệnh cảnh lâm sàng đôi khi mơ hồ, sốt vừa, bệnh nhân còn khỏe.

Thời kỳ lui bệnh

Sau khi điều trị bằng kháng sinh thích hợp:

Sốt hết trung bình 7,4 ± 3,4 ngày sau, triệu chứng tiêu hoá và tuphos cũng hết nhanh.

Nhưng đáp ứng kháng sinh còn tùy thuộc vào độ nặng của bệnh, thời kỳ đến khám, tuổi và tình trạng miễn dịch của người bệnh.

Không điều trị bằng kháng sinh:

Sốt và hầu hết triệu chứng cũng hết vào tuần thứ 4 của bệnh, nhưng bệnh nhân yếu, sụt cân và suy nhược, có thể kéo dài nhiều tháng. Nguy cơ xảy ra biến chứng.

Biến chứng

Nhiều biến chứng xảy ra nhất là vào tuần thứ 3 hoăc thứ 4 của bệnh:

Xuất huyết tiêu hoá: gặp nhiều nhất (10,8%), xuất huyết có thể ít (chỉ thấy qua xét nghiệm phân) hoặc ồ ạt, báo hiệu bằng giảm thân nhiệt và huyết áp đột ngột.

Thủng ruột: thường ở 60 cm cuối hồi tràng. Kéo theo triệu chứng viêm phúc mạc, rõ ràng nếu tuphos nhẹ, nhưng chẩn đoán khó khi tuphos nặng, vì bụng không cứng, nhưng chướng hơi nhiều, vùng đục trước gan biến mất và tăng bạch cầu máu.

Biến chứng tiêu hóa khác: hiếm thấy, như viêm ruột thừa, viêm túi mật và đường mật cấp, viêm gan và abcès gan.

Biến chứng tim mạch: viêm cơ tim, viêm ngoại và nội tâm mạc. Kéo theo rối loạn nhịp tim và dẫn truyền, suy tim và sốc do tim. Viêm mạch máu ít gặp. 

Biến chứng thần kinh: bệnh cảnh não có thể hôn mê, phối hợp rối loạn tâm thần, biến đổi điện não đồ. Viêm màng não và viêm tủy sống hiếm gặp.

Biến chứng khác: viêm cơ, xương, khớp; viêm phổi, màng phổi; viêm cầu thận, chậu, thận, tinh hoàn, phần phụ. cũng ít xảy ra.

Tái phát

Trước kỷ nguyên kháng sinh tái phát 8-12%, nay với điều trị kháng sinh thích hợp tỉ lệ giảm, nhưng còn xảy ra (5,9%), thường 8-15 ngày sau khi ngưng điều trị hoặc khỏi tự nhiên.

XÉT NGHIỆM

Công thức máu: có giá trị định hướng

- Giảm bạch cầu (3000 - 4000/mm3), thường là bạch cầu đa nhân trung tính. Hoặc bạch cầu bình thường, khi bạch cầu tăng coi chừng biến chứng thủng ruột.

- Hồng cầu và tiểu cầu giảm nhẹ.

Xác định chẩn đoán bằng:

- Cấy máu (+), nhất là trong tuần đầu, trước khi dùng kháng sinh.

- Cấy tủy xương (+) cao, khi đã dùng kháng sinh cấy máu thường (-).

- Cấy phân, nước tiểu (+), thực hiện ở tuần thứ III của bệnh, thường để theo dõi tình trạng mang trùng.

- Cấy hồng ban (thực tế ít làm).

- Cấy dịch tá tràng (duodenal string test ) (+) cao.

Huyết thanh chẩn đoán:

Phản ứng Widal:

Phản ứng ngưng kết Widal là loại phản ứng huyết thanh học cổ điển được sử dụng kháng nguyên O và H của S typhi khảo sát ngưng kết kháng thể kháng O (lipopolysaccharide) và H (ílagellar protein); thực hiện từ tuần thứ hai trở đi.

Kháng thể kháng O thường xuất hiện sớm trong giai đoạn cấp của bệnh, kháng thể kháng H thường xuất hiện muộn hơn nhưng tồn tại trong máu lâu hơn. Nên cần làm 2 lần cách nhau 1 tuần, kháng thể tăng ở lần thứ hai cao gấp > 4 lần ở lần thứ nhất, có giá trị chẩn đoán.

Phương pháp:

Ủ huyết thanh pha loãng 1/100 với kháng nguyên 370C trong 1 giờ.

Ly tâm và đọc kết quả ngưng kết

Giá trị của test Widal: (chuẩn với cấy máu)

Khảo sát trên 1400 BN cấy máu có S typhi, 45 S paratyphi A, 600 ca chứng với cut-off O > 200 oặc H > 100

> Nhạy: 74% trường hợp thương hàn trên lâm sàng cấy máu dương tính

> Có 14% trường hợp dương tính giả

> Có 10% trường hợp âm tính giả

Kháng thể kháng H có tính đặc hiệu cao hơn O agglutinins

Giá trị cao của kháng thể kháng H có giá trị chẩn đoán hơn O agglutinins

> O > 400 hoặc H > 200: có đủ tin cậy để chẩn đoán thương hàn Hiện nay test IFA (kháng thể huỳnh quang gián tiếp), Elisa là các phương pháp chẩn đoán huyết thanh nhanh, sớm và chính xác.

Một số xét nghiệm khác:

Siêu âm bụng, chức năng gan, chức năng thận và xét nghiệm để phát hiện các biến chứng.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Dựa vào các yếu tố dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm vi trùng học:

Dịch tễ:

Ở vùng có bệnh lưu hành, thói quen ăn uống sống, kém vệ sinh (ăn rau sống, sò ốc hến, uống nước lã.), đi tiêu bừa bãi, tiếp xúc với người bệnh thương hàn. Lâm sàng:

Sốt kéo dài > 1 tuần, với rối loạn tiêu hoá, bụng chướng, lạo xạo hố chậu phải, lách to, hồng ban, tuphos.

Cận lâm sàng:

Cấy máu dương tính

Chẩn đoán phân biệt

Cần phân biệt với các trường hợp sốt kéo dài do các bệnh nhiễm khác, hoặc nguyên nhân không nhiễm trùng:

- Sốt rét: ở vùng sốt rét lưu hành, có triệu chứng rối loạn tiêu hóa hoặc có thể bệnh phối hợp.

- Lao: lao kê, lao thể thương hàn.

- Nhiễm trùng huyết Gram âm: thường thứ phát sau nhiễm trùng tiểu, đường mật,.... Triệu chứng lâm sàng tương tư thương hàn với sốt, rối loạn tiêu hóa, nhưng trong nhiễm trùng huyết thường có những cơn rét run, chẩn đoán phân biệt dựa vào cấy máu.

- Bệnh nung mủ sâu: áp-xe gan, viêm quanh thận, phần phụ,...

- Nhiễm siêu vi: Dengue, tăng đơn nhân nhiễm trùng ...

- Bệnh nhiễm Rickettsia: sốt mò, sốt phát ban do chấy rận ...

TIÊN LƯỢNG

Nhìn chung, tiên lượng bệnh thương hàn tốt. Tử vong hiếm, trừ trong trường hợp xảy ra dịch, hoặc ở người yếu như già, suy dinh dưỡng, suy tim, suy giảm miễn dịch.

Khi khỏi bệnh, không có di chứng, nhưng có thể mang trùng mãn tính, bài tiết vi khuẩn thương hàn, quan trọng về mặt dịch tễ, nhất là những người này lại là những người nấu ăn, hoặc làm nghề sản suất và mua bán thức ăn uống ...

ĐIỀU TRỊ THƯƠNG HÀN BẰNG ĐÔNG Y

Triệu chứng.

Bệnh khởi phát sau khoảng 10 ngày khi ăn phải các vật phẩm chứa mầm bệnh. Thường biểu hiện với các triệu chứng như:

Nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức, biếng ăn, mất ngủ, ... Sốt cao nhiều ngày, ít thấy rét run.Rối loạn tiêu hóa với các triệu chứng như đầy hơi, chướng bụng, táo bón.

Các rối loạn hô hấp như ho khan và có thể có chảy máu cam ở trẻ con

Các biểu hiện trên xuất hiện sớm làm cho bệnh nhân bối rối giữa hai bệnh về tiêu hóa & hô hấp.

Nếu không được chữa trị, thời kỳ toàn phát với các triệu chứng trầm trọng hơn buộc bệnh nhân phải đi đến bệnh viện như: sốt cao liên tục nhiều ngày, không đáp ứng với thuốc hạ sốt .Sình bụng, kèm theo tiêu chảy .Nặng bụng & đau tức bụng do gan lách bị sưng to.

Điều trị

Theo Trung Quốc danh phương toàn tâp dùng bài " Đại thừa khí thang" Tiểu sài hồ thang" ( thương hàn luận) " Thạch cao thang" (Ngoại đài bị yếu)

Đại thừa khí thang Đại hoàng 12 Hậu phác 15 Chỉ thực 12
Mang tiêu 9

Cách dùng. Sắc uống ngày 1 thang

Công dụng. hạ mạnh nhiệt kết

Tiểu sài hồ thang Sài hồ 12 Sinh khương 9 Hoàng cầm 9
Táo 4q Nhân sâm 9 Cam thảo 6 Bán hạ 9

Cách dùng. Sắc uống ngày 1 thang

Công dụng. hòa giải thiếu dương.

Thạch cao thang Thạch cao 30 Hoàng bá 6 Hương thị 9
Ma hoàng 9 Hoàng liên 6 Hoàng cầm 6 Chi tử 9

Cách dùng. Sắc uống ngày 1 thang

Công dụng. thanh nhiệt tả hỏa, phát hãn gải biểu.

ĐIỀU TRỊ THƯƠNG HÀN BẰNG TÂY Y

Nguyên tắc

- Sử dụng kháng sinh nhạy cảm, tới nơi vi khuẩn.

- Điều trị phối hợp.

- Theo dõi và điều trị biến chứng.

- Điều trị người lành mang trùng.

Áp dụng

Sử dụng kháng sinh:

- Kháng sinh phải nhạy cảm và phải thấm vào tế bào và hệ bạch huyết.

- Các kháng sinh đã bị kháng ở nước ta gồm: Chloramphenicol, Ampicillin, hoặc Amoxicillin, Cotrimoxazole.

- Các kháng sinh hiệu quả in vitro, nhưng không dùng in vivo, vì không vào được tế bào có vi khuẩn gồm: Cephalosporin thế hệ I và II, Aminoglycoside.

- Các kháng sinh mới, có hiệu quả gồm:

• Fluoroquinolones: như Gatifloxacin (Tequin) 400mg, ngày uống 1 lần, hoặc Ofloxacin 200mg, hay Ciprofloxacin 500mg, ... ngày uống 2 lần, trong 7-10 ngày.

• Céphalosporin thế hệ III: như Ceftriaxone (Rocephin) 2g mỗi ngày, TM hoặc TB, trong 7-10 ngày. Dùng cho người không uống được, trẻ em và phụ nữ có thai.

• Azithromycine: thường dùng phối hợp trong các trường hợp thương hàn kháng thuốc.

Điều trị phối hợp:

- Corticosteroids: chỉ dùng trong trường hợp trầm trọng (mê sảng, tuphos nặng, lơ mơ, hôn mê, sốc). Dexamethasone 3 mg /kg TM, sau đó cho 1 mg /kg mỗi 6 giờ, tất cả 8 liều (chỉ dùng trong 48 giờ).

- Chăm sóc điều dưỡng, để ý chế độ ăn, cho thức ăn dễ tiêu và nhiều chất dinh dưỡng. Tránh dùng thuốc xổ hoặc thụt tháo (dễ gây xuất huyết và thủng ruột).

- Lau mát để hạ sốt, bù nước nếu bệnh nhân sốt cao, tiêu chảy mất nước, tránh dùng thuốc có chứa Salicylate (như Aspirin).

Phát hiện và điều trị biến chứng:

- Theo dõi lâm sàng: thân nhiệt, mạch, huyết áp, nghe tim, xem phân, khám bụng.

- Xét nghiệm: kiểm tra huyết đồ, bạch cầu, dung tích hồng cầu, máu trong phân

- Điều trị sớm xuất huyết ruột: xem có chỉ định truyền máu hay không.

- Điều trị thủng ruột: điều trị nội khoa bảo tồn (hồi sức ...), hoặc phẫu thuật.

Điều trị người lành mang trùng:

- Ciprofloxacin 500 mg, hoặc Norfloxacin 400 mg, uống 2 lần /ngày, trong 4 tuần.

Có thể hết, ngay cả có sỏi mật.

PHÒNG BỆNH

Cộng đồng

- Kiểm soát vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, vệ sinh ăn uống.

- Cách ly và điều trị người bệnh, tẩy uế.

- Phát hiện, điều trị và kiểm soát người lành mang trùng, không cho làm thực phẩm, giữ trẻ hoặc chăm sóc bệnh ...

Cá nhân

- Giáo dục sức khỏe, vệ sinh ăn uống, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi tiêu.

Tiêm chủng

Đối với người ở vùng bệnh lưu hành, khi có dịch, xét nghiệm viên, người tiếp xúc với người bệnh hoặc trong nhà có người lành mang trùng ...

- TAB: vaccin cổ điển, nhiều tác dụng phụ, hiệu quả bảo vệ kém.

- Typhim Vi: hiệu quả khoảng 70%, rất ít tác dụng phụ. Tiêm bắp 1 liều duy nhất 25p,g, có tác dụng bảo vệ trong 3 năm.

- Ty 21 a (Vivotif): bảo vệ khoảng 43-96%, giảm tác dụng phụ nhiều. Uống 3 liều 109 vi khuẩn trong 3 ngày liên tiếp. Nhắc lại mỗi 5 năm (chống chỉ định ở trẻ em dưới 6 tuổi, người suy giảm miễn dịch, hoặc đang điều trị kháng sinh). Thời gian bảo vệ tối thiểu được 3 năm.

**************************

Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích. Hãy chia sẻ để tạo phúc cho mình và giúp đỡ mọi người.

Tư vấn sức khỏe trực tuyến Tư vấn sức khỏe trực tuyến Chia sẻ facebook Tư vấn sức khỏe trực tuyến


Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH
Đầu trang