Ure được tổng hợp tại gan, là sản phẩm quan trọng nhất của chuyển hóa nitơ, có nguồn gốc chủ yếu từ quá trình thoái hóa protein trong cơ thể. Ure được đào thải chủ yếu qua thận và một phần qua đường tiêu hóa.
Chỉ số ure máu ở mức là 2.5 – 7.5 mmol/l, nếu như chỉ số ure cao hơn ngưỡng chứng tỏ thận đang hoạt động kém hơn và dễ gặp phải các thương tổn, lâu ngày sẽ gây ra tình trạng suy thận.
Ure máu tăng cao hoặc giảm thấp quá mức đều ảnh hưởng tới sức khỏe.
Ure là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa chất đạm và từ gan vào máu rồi đến thận và được đào thải ra ngoài theo nước tiểu. Ure máu được bổ sung vào cơ thể hàng ngày thông qua các thực phẩm giàu chất đạm như thịt, cá, trứng, sữa...Chất đạm mà con người tiêu thụ hàng ngày được gọi là protein ngoại sinh. Sau khi vào cơ thể, nó được các protease của đường tiêu hóa chuyển hóa và tạo thành các axit amin. Khi các axit amin tiếp tục chuyển hóa sẽ tạo thành NH3 và CO2.
Mỗi ngày 1 người trưởng thành sẽ bài tiết khoảng 30g ure qua đường nước tiểu và một lượng nhỏ qua mồ hôi.
Ngộ độc ure là tình trạng lượng ure tích tụ trong cơ thể quá nhiều, không đào thải hết ra ngoài qua đường nước tiểu, hay mồ hôi. Cơ thể người khi bị nhiễm độc ure nếu nhẹ thì chỉ bị chóng mặt, đau bụng, nặng hơn sẽ nôn mửa, tiêu chảy, có thể làm giảm hoạt động của tuyến giáp, rối loạn máu ác tính, rối loạn thần kinh… trường hợp cấp cứu không kịp thì tử vong.
Khi nồng độ ure máu tăng cao, người bệnh thường có các dấu hiệu như:
Ăn không ngon, bụng chướng, đầy hơi, hoa mắt chóng mặt, nhức đầu, kiệt sức, mất ngủ;
Lưỡi chuyển sang màu đen, họng và niêm mạc miệng loét;
Buồn nôn, tiêu chảy;
Hơi thở có mùi amoniac, rối loạn nhịp thở;
Thân nhiệt giảm;
Tăng huyết áp, mạch đập nhanh, nhỏ;
Nếu bị suy thận giai đoạn cuối có thể bị trụy mạch;
Trường hợp nặng có thể bị hôn mê, co giật do phù não, đồng tử co và phản ứng ánh sáng kém;
Khi khám không thấy dấu thần kinh khu trú, không có hội chứng màng não;
Chảy máu võng mạc, chảy máu dưới da và niêm mạc.
Xét nghiệm máu nếu chỉ số ure tăng cao thường do chức năng thận bị suy giảm. Tuy nhiên nồng độ ure máu tăng cao còn do một số nguyên nhân khác như:
Do bị ngộ độc thủy ngân;
Chế độ ăn uống không khoa học, quá nhiều protein (đạm);
Do bị suy thận, ứ nước bể thận do sỏi thận, tổn thương cầu thận, ống thận;
Do bị tắc nghẽn đường niệu, vô niệu, thiểu niệu;
Do tăng dị hóa protein bởi sốt, nhịn đói suy dinh dưỡng, bỏng, bệnh lý u tân sinh;
Do bị xuất huyết tiêu hóa dẫn đến nhiễm trùng nặng;
Sử dụng các loại thuốc chống trầm cảm, thuốc lợi tiểu, kháng sinh, thuốc cản quang...
Ngộ độc ure gây tổn thương ở các cơ quan như sau: suy thận, hư thận càng nặng.
Hệ thần kinh: bệnh nhân thường thấy buồn ngủ hoặc ngủ nhiều hơn, khả năng suy nghĩ kém, trí nhớ suy giảm, thường bị chuột rút, bị động kinh.
Tim: viêm cơ tim, khó thở, suy tim sung huyết, xơ cứng động mạch.
Phổi: khó thở, viêm phổi. Tiêu hóa: chán ăn dẫn đến suy dinh dưỡng, viêm loét ruột, xuất huyết.
Da: ngứa, thay đổi màu da.
Xương: mất cân bằng canxi và phospho gây loãng xương, dễ gãy xương.
Máu: thiếu máu, nhanh mệt mỏi, khó thở, dễ chảy máu…
Ngoài ra còn có các tổn thương khác như: tiểu đường, suy giảm chức năng tuyến giáp, suy giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ…
Khi phát hiện bị ngộ độc ure, cần xác định nguyên nhân gây ngộ độc, để xử lý kịp thời, xử lý càng sớm sẽ càng ít để lại những di chứng nguy hiểm cho cơ thể.
Theo Trung Quốc danh phương toàn tâp dùng bài: "tử tuyết" (Ngọai đài bí phương)
| Tử tuyết | Thạch cao | 150 | Hoạt thạch | 150 | Thăng ma | 50 | |
| Linh dương giác | 15 | Phác tiêu | 50 | Trầm hương | 15 | Từ thạch | 150 |
| Xạ hương | 1.2 | Hoàng kim | 310 | Hàn thủy thạch | 150 | Huyền sâm | 50 |
| Tê giác tiết | 15 | Thanh mộc hương | 15 | Chích cam thảo | 14 | Tiêu thạch | 9 |
| Đinh hương | 3 | Chu sa | 9 | ||||
Cách dùng. Tán bột ngày uống 3 gam
Công dụng. thanh nhiệt khai khiếu, trấn kinh an thầnTheo thaythuoccuaban.com tổng hợp
|