Bướu cổ đơn thuần gọi tắt là bướu cổ dùng để chỉ sự tăng khối lượng của tuyến giáp ,tuyến giáp to lan toả, mặc dù đôi khi một thùy có thể to hơn so với thùy kia.Thiếu iốt là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh bướu cổ đơn thuần. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và thường liên quan đến hormone tuyến giáp. Cách điều trị bệnh bướu cổ đơn thuần bao gồm thuốc kết hợp chế độ ăn uống hợp lý.
Bướu cổ đơn thuần là chỉ tình trạng to ra của tuyến giáp hoặc dưới dạng lan tỏa hoặc dưới dạng nhân, nhưng không liên quan đến tình trạng nhiễm độc giáp hoặc thiểu năng giáp. Đó cũng không phải là hậu quả của quá trình tự miễn dịch, viêm nhiễm hay u tân sinh tuyến giáp .Bệnh thường gặp ở nữ giới, tỷ lệ có cao hơn trong các giai đoạn dậy thì, thai kỳ, tuổi mãn kinh.
Hình thái bình thường của tuyến giáp, tuyến giáp có dạng hình vuông: 6 x 6cm. Eo tuyến giáp: cao 1,5 cm, rộng 1cm. Mỗi thùy: Cao: 2,5 – 4cm, rộng 1,5 – 2cm, dày 1 – 1,5cm. Tuyến giáp bình thường nặng 10 – 20g. Tuyến màu đỏ nâu, mềm, di động.
Có ba thể bướu giáp đơn thuần: Thể lan tỏa, thể nhiều nốt, thể một nốt . Thể nhiều nốt thường gặp ở tuổi cao hơn thể lan tỏa, triệu chứng thường không rõ, đa số không cần điều trị, cần sinh thiết xét nghiệm tế bào học để loại trừ ung thư. Thể một nốt thường lành tính, tuy nhiên có khoảng 5% là ung thư biểu mô, cần sinh thiết bằng kim nhỏ để làm rõ chẩn đoán, với thể một nốt lành tính cần tái khám định kỳ, bệnh thường không đáp ứng giảm thể tích với điều trị thyroxine
Do thiếu iod tuyệt đối (bướu giáp dịch tễ) thường do nước uống trong vùng bị thiếu iod, tuy nhiên có nhiều vùng trên thế giới không thiếu iod ngay cả vùng thừa iod vẫn có thể bị bướu giáp dịch tễ, ngoài ra không phải tất cả người sống ở vùng thiếu iod đều bị bướu giáp đơn thuần. Điều này cho thấy ngoài yếu tố môi trường còn có yếu tố di truyền trong bệnh sinh bướu giáp, các yếu tố này có thể tác dụng tương hỗ.
Do tác dụng của các chất làm phì đại tuyến giáp: Một số loại thức ăn như quả su có chứa những chất làm lớn tuyến giáp, giải thích sự xuất hiện bướu giáp dịch tễ ở một số vùng. Ngoài ra một số chất như thiocyanat, acid para-amino-salicylic (PAS), muối lithium, cobalt, thuốc kháng giáp tổng hợp có thể gây bướu giáp đơn thuần.
Mất iode Tiêu chảy kéo dài, hội chứng thận hư (giảm protein tải iode), thai nghén (tăng thải iode nước tiểu).
Trong bướu cổ, giảm thyroxin sẽ kích thích tuyến yên tăng tiết TSH gây bướu giáp và tăng sản xuất hormon giáp, đây chỉ là hiện tượng bù trừ, phản ứng để cung cấp cho cơ thể đủ thyroxin, do đó tuyến giáp không bị suy hay giảm chức năng.
Nồng độ iode trong máu và trong tuyến giáp giảm, làm tuyến giáp phì đại để bù trừ cũng qua cơ chế trên.
Vấn đề bướu nhân chưa được giải thích rõ rệt lắm, người ta cho rằng bắt đầu to toàn bộ tuyến giáp và sau đó thu lại còn một hay nhiều nhân. Có ý kiến khác cho rằng TSH tác dụng lên một số nhỏ nang tuyến giáp, và bướu dạng keo là hậu quả của bướu hay phì đại tế bào.
Bệnh thường kín đáo, không có triệu chứng cơ năng. Bướu giáp có thể do người bệnh hoặc người xung quanh phát hiện, hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát.
Khám tuyến giáp thấy tuyến giáp lớn ở giữa cổ, ranh giới rõ, không dính vào da, tuyến lớn lan tỏa hoặc dạng nốt, di động theo nhịp nuốt, không đau. Một tuyến giáp có thể tích bình thường không bao giờ sờ thấy dù người bệnh rất gầy.
Khám lâm sàng, kết hợp nhìn và sờ nắn. Người khám có thể đứng phía trước người bệnh, nhìn tuyến giáp, dùng hai ngón tay cái để sờ tuyến giáp. Khi sờ cần định rõ ranh giới, độ lớn, mật độ của bướu, cùng lúc cho người bệnh nuốt, bướu sẽ di động theo nhịp nuốt. Bướu giáp đơn thuần thường có mật độ mềm trong trường hợp bướu giáp nhu mô lan tỏa, cũng có khi mật độ chắc thường thấy trong bướu giáp thể nhân.
Bướu lớn có thể gây các dấu hiệu chèn ép cơ quan và tổ chức xung quanh như:
Chèn ép khí quản gây khó thở.
Chèn ép dây thần kinh quặt ngược gây nói khó, nói khàn, nói hai giọng.
Chèn ép tĩnh mạch chủ trên gây phù kiểu áo khoác: Phù ở mặt, cổ, lồng ngực, hai tay kèm tuần hoàn bàng hệ ở ngực.
Sau khi sờ bướu giáp, có thể dùng thước dây đo vòng cổ của người bệnh, đo ngang qua nơi tuyến giáp lớn nhất, giúp theo dõi diễn biến qua điều trị.
Gặp nhiều ở nữ ở tuổi dậy thì, có thai, cho con bú, lúc tắt kinh thường to hơn và qua những kỳ đó tuyến lại nhỏ hơn. Thường tuyến giáp to nhẹ tản mạn, chất mềm và trơn láng. Đến tuổi trung niên về sau, bướu có thể cứng và có nốt cục.
Đối với bướu giáp đơn đều: chỉ tình cờ thấy bướu lớn, hoặc do người khác phát hiện có một khối u ở giữa cổ, sờ có ranh giới rõ, không dính vào da, không đau, mềm hay chắc, di động theo nhịp nuốt lên xuống, khi bướu to có thể gây chèn; không có tiếng thổi tại đỉnh bướu.
Đối với bướu giáp nhiều nhân: gồm nhiều khối tròn đường kính từ 0,5 - vài cm.
Bướu cổ địa phương tính to nhỏ không chừng (rất nhỏ hoặc rất to). Theo độ to nhỏ có thể chia:
Độ l: Nhìn kỹ có khi phải nhìn nghiêng mới phát hiện hoặc phải sờ nắn.
Độ 2: Nhìn thẳng đã thấy to.
Độ 3: Bướu quá to.
Đôi khi bướu ở vị trí đặc biệt hoặc bị chèn ép khó chẩn đoán.
Bướu giáp chìm: Bướu ở cổ nhưng trong lồng ngực sau xương ức. Bướu làm khó chịu mỗi khi nuốt và thở. Bướu trong lồng ngực, X quang thấy như một u trung thất.
Bướu dưới lưỡi: Gặp ở phụ nữ, ở đáy lưỡi làm cho khó nhai, khó nuốt và khó nói.
Bướu cổ mới bắt đầu nhỏ mặt bóng nhẵn, về sau có thể to nhỏ không chừng, cứng thành cục hoặc nang, bề mặt có thể có tĩnh mạch nổi còng quèo. Trường hợp quá to sẽ có hiện tượng chèn ép như nếu chèn ép khí quản sinh ho, khó thở, vướng cổ, chèn ép thực quản thì nuốt khó, chèn hầu họng thì khàn giọng... Có khi xuất huyết trong nang gây đau và bướu to đột ngột.
Xét nghiệm định lượng TSH huyết thanh có giá trị cao, kết hợp với hormon giáp tự do là xét nghiệm sàng lọc đầu tiên cần thực hiện. Kết quả cho trị số bình thường đối với bướu giáp đơn. Tuy nhiên tỷ lệ T3/T4 có thể tăng do sự iod hóa của thyroglobulin bị thương tổn.
Các thăm dò về hình ảnh học cũng hữu ích trong đánh giá bướu giáp, nhất là trong trường hợp bướu giáp dạng nốt. Siêu âm tuyến giáp, xạ hình tuyến giáp giúp chẩn đoán và điều trị.
Xạ hình tuyến giáp giúp phát hiện nhân nóng trong nhu mô tuyến giáp, từ đó có định hướng điều trị.
Siêu âm tuyến giáp là thăm dò hữu ích trong đánh giá tuyến giáp, giúp đánh giá hình thái và độ lớn tuyến giáp. Có khoảng 30-50% người bệnh bướu giáp dạng nốt sờ tuyến giáp bình thường được siêu âm tuyến giáp phát hiện. Siêu âm các bướu giáp dạng nốt cho biết số lượng, hình dạng nốt, đồng thời giúp hướng dẫn chọc hút bằng kim nhỏ để chẩn đoán tế bào học. Siêu âm giúp theo dõi sau điều trị.
Chụp phim X quang quy ước vùng cổ và vùng trung thất trên nên thực hiện, có thể thấy hình ảnh chèn ép khí quản nếu có.
Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và xạ hình tuyến giáp cần được chỉ định trong trường hợp bướu giáp lạc chỗ khu trú trong ngực.
Sinh thiết: có khi cần thiết, cho thấy các biến đổi lành tính như trong phần giải phẫu bệnh.
Đối với bướu cổ dịch tễ hay bướu cổ địa phương, cần đo iode niệu/ngày, hoặc tỉ lệ iode niệu/créatinine niệu để đánh giá sự trầm trọng của thiếu hụt iode:
Mức độ nhẹ: 50 - 99 (g/ngày hoặc 50 - 99 (g/g creatinine niệu)
Mức độ trung bình: 25 - 49 (g/ngày hoặc 25 - 49 (g/g creatinine niệu.)
Mức độ nặng < 25 (g/ngày hoặc 25 (g/g creatinine niệu)
Thể tích tối đa tuyến giáp (giới hạn trên) ở người trưởng thành 18 ml.
Chẩn đoán phân biệt
Bướu giáp có suy giáp: chỉ khác nhau về triệu chứng suy giáp.
Bướu giáp có cường giáp như Basedow, bướu giáp độc lâm sàng có dấu cường giáp, tính chất đặc biệt của bướu và cận lâm sàng giúp cho chẩn đoán dễ.
Bướu giáp đơn kết hợp với rối loạn thần kinh thực vật: có triệu chứng giống nhau là có bướu cổ, kèm dễ mệt hay hồi hộp, nhịp tim nhanh nhưng nhịp tim dễ trở lại bình thường khi nghĩ ngơi hay dùng an thần, lòng bàn tay có nhiều mồ hôi nhưng không nóng, các xét nghiệm thăm dò chức năng tuyến giáp bình thường.
Bướu giáp đơn háo iode: không có dấu hiệu cường giáp, chỉ có độ tập trung Iode131 cao, nhưng nghiệm pháp Werner > 50%, các xét nghiệm khác bình thường.
K tuyến giáp: rất cứng, có thể có triệu chứng chèn ép và hạch di căn, không tập trung Iode131, sinh thiết để loại trừ.
Viêm tuyến giáp bán cấp và mạn (Hashimoto, Riedel), bướu giáp lan tỏa, có khi nhiều nhân, cứng, tốc độ máu lắng tăng, (globulin tăng, tự kháng thể kháng giáp cao, kiểm tra kháng TPO, sinh thiết tổ chức giáp để loại trừ.
U ngoài tuyến giáp: không di động theo nhịp nuốt.
Xuất huyết trong bướu: bướu to nhanh, đau và nóng, dấu chèn ép cấp.
Cường giáp: Thường xảy ra ở bướu nhiều nhân, bướu lâu năm, Basedow hóa phần tuyến bình thường xen kẽ giữa các nhân, thường do cung cấp iode quá nhiều (iode- Basedow).
Ung thư hóa.
Riêng đối với bướu cổ do thiếu iode ở người mẹ mang thai: có thể ảnh hưởng đến sự chậm phát triển về tinh thần và thể chất của thai nhi.
Dự phòng.
Có 3 phương pháp tiến hành dự phòng bệnh bướu cổ:
- Hoà iod vào nước uống.
- Trộn iod vào muối ăn.
- Dùng dầu có iod.
Nếu dùng 1 trong 3 biện pháp trên thì tỷ lệ những người bị bướu cổ địa phương sẽ giảm đi ít nhất sau 3- 6 tháng.
Đối với vùng thiếu iode.
Muối iode hóa: Nồng độ iode trộn vào muối được đề nghị là 1 phần iode cho 10.000-100.000 phần muối, bằng cách dựa trên sự tiêu thụ khoảng 5g-10g muối/ngày, cung cấp chừng 50- 500mg iode/ngày. Hiện nay dùng iodat bền vững hơn iodure (IK) do đặc tính ổn định của nó trong vùng nhiệt đới ẩm thấp.
Dự phòng bướu cổ bằng cách dùng muối iode. Tuy nhiên theo khuyến cáo của TCYTTG (1996) về sử dụng muối iode cần lưu ý:
Khoảng 20% iode bị mất đi từ khi sản xuất cho đến khi sử dụng.
Khoảng 20% iode bị hư biến trong quá trình chế biến thức ăn.
Lượng muối sử dụng trung bình trong ngày là 10g. Cách trộn Kali iodat hoặc iodure Kali 20-25 mg/kg muối, tương ứng nhu cầu trung bình là 150- 300 mg/ngày. Sự cung cấp được đánh giá tốt khi nồng độ iode trong nước tiểu trung bình từ 100-200mg iode/l.
Dầu iode:
Lipiodol:Đường uống: 1ml chứa 480mg iode, liều duy nhất bằng 1ml, dự phòng 1-2 năm.Tiêm bắp: liều 0,5-1ml (1ml chứa 480mg iode), dự phòng bướu cổ và chứng đần địa phương trong 3 - 5 năm.Trẻ em <1tuổi: liều 0.5ml, tiêm ở mông.Trẻ em >1tuổi và người lớn tiêm ở tay, liều 1ml.
Nuớc pha iode:Iode loại dung dịch đậm đặc I2, IK hay KIO3 cho vào nước uống đạt nhu cầu 150mg /ngày.
Lugol: 5g I2 + 10g IK trong 100ml (hoặc 6mg iode chứa trong 1 giọt Lugol). Thời gian tác dụng ngắn hơn so với loại dầu iode, nên cho nhiều lần trong ngày
Theo y học cổ truyền bướu cổ đơn thuần thuộc phạm trù chứng anh lựu.Y học cổ truyền cho rằng bệnh anh phát sinh là do liên quan với đất nước nơi ăn ở và tình chí (trạng thái tinh thần) thay đổi.
Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ viết: "Vùng núi đất đen có nguồn nước chảy ra không thể sống lâu ở đó, ăn uống nước đó dễ mắc bệnh "anh".
Sách ‘Ngoại Đài Bí Yếu’ cũng ghi: "Người vùng Trường An... uống nước cát dễ mắc bệnh anh”.
Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ ghi về tình chí có liên quan đến bệnh như sau: "Bệnh anh" là do lo lắng nhiều, khí kết mà sinh ra".
Bệnh lý chủ yếu là đàm thấp, khí trệ: Người bệnh có tỳ khí kém, thêm ảnh hưởng của thức ăn nước uống làm cho đàm thấp nội sinh, đàm thấp sinh nhiều càng tăng thêm khí trệ mà sinh bệnh. Hoặc do tức giận, thướng can, can khí không thông đạt, uất nên sinh đờm, đờm khí kết ở cổ mà sinh bệnh. Đàm thấp và khí trệ là hổ tương nhân quả cho nên khối u ngày càng to thêm. Cũng do can chủ sơ tiết, mà 2 mạch Xung, Nhâm liên hệ nhiều với kinh can, do đó, phụ nữ có kinh, thai nghén cho con bú đều liên quan đến khí huyết của can, những lúc đó dễ mắc bệnh.
Chứng anh là loại bệnh của tuyến giáp và thường được chia làm các chứng Khí Anh ,Nhục Anh ,Thạch Anh và Anh Ung. Bản bệnh trong đông y thuộc phạm vi Khí anh , Nhục anh.
– Khí Anh: tức bướu giáp đơn thuần.
– Nhục Anh: tức u giáp cứng hơn thường, khối u khu trú hình cầu hoặc hình trứng (hình thuẫn).
– Thạch Anh: tức ung thư tuyến giáp, hình thể lồi lõm không đều, cứng như đá, ít hoặc không di động theo động tác nuốt.
– Anh Ung: tức viêm tuyến giáp bán cấp, tuyến giáp sưng đau xuyên sang vùng chẫm sau tai kèm theo họng đau, đau đầu, sốt.
– Bệnh ở vị trí trước cổ, hai bên hầu kết, có mạch nhâm và nhánh của mạch đốc,. hai kinh can thận cũng đi qua vùng hầu. Do đó các yếu tố gây tắc kinh lạc các mạch này gây rối loạn chức năng can thận, mạch Nhâm, mạch Đốc mạch sinh ra khí trệ, đàm ngưng huyết ứ, kết tụ vùng trước cổ sinh bệnh.
+ Khí trệ: Do thủy thổ bất hòa, ăn uống không điều độ, tình chí nội thương gây rối loạn khí cơ, khí trệ, khí uất, kết tụ ở cổ gây bệnh như chứng Khí anh.
+ Huyết ứ: khí trệ huyết ứ (do khí là huyết soái), huyết ứ trước cổ sinh bệnh như chứng thạch anh.
+ Đờm ngưng: do thủy thổ bất hòa, tình chí nội thương hoặc chính khí suy, độc tà xâm nhập gây nên kinh lạc tắc trở gây chức năng tạng tỳ phế thận rối loạn, thủy thấp không hóa được tích tụ lại thành đàm ở hấu kết (sụn giáp) sinh bệnh như chứng nhục anh, anh ung.
Tóm lại theo YHCT thì chứng anh là một chứng bệnh do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do thủy thổ bất hứa, thất tình nội thương, chính khí bất túc, ngoại tà xâm nhập dẫn đến kinh lạc, tạng phủ thất điều, khí trệ huyết ứ, đờm trọc kết tụ ở cổ sinh bệnh.
Theo 3 nguyên nhân trên, trên lâm sàng có 3 thể bệnh chủ yếu cùng tên, mỗi thể bệnh có phép trị và bài thuốc như sau:
1. Thuốc uống.
+ Lý khí giải uất: Dùng bài Tiêu Dao Tán, Tứ Hải Sơ Uất Hoàn.
Chỉ định: chứng khí anh, có đặc điểm khối cục mềm, di động, đau ngực sườn, rêu lười trắng mỏng, mạch huyền hoạt.
+ Hoạt huyết tán ứ: Dùng bài thuốc: Đào Hồng Tứ Vật Thang.
- Chỉ định: chứng thạch anh có triệu chứng cục khối cứng, đau cố định, lưỡi tím đen, có ban hoặc nốt ứ huyết, mạch nhu sáp.
+ Hóa đờm nhuyễn kiên: dùng bài Hải Tảo Ngọc Hồ Thang.
- Chỉ định: chứng nhục anh do đàm ngưng kết sinh ra, không đau, ấn có cảm giác cứng hoặc nang, không đỏ không nóng, rêu lưỡi mỏng nhầy, mạch huyền.
Ngoài ra, tùy tình hình bệnh lý mà có thể dùng các phép thanh nhiệt hóa đàm, bổ thận ích can, điều nhiếp mạch xung nhâm.
2. Phép dùng ngoài: có dán cao, châm cứu, phẫu thuật.
Khí anh là tên gọi bệnh bướu giáp đơn thuần theo YHCT, còn gọi là bướu cổ. Bệnh phổ biến ở miền núi, có thể tập trung ở một vùng (gọi là bướu cổ địa phương), có thể xuất hiện lẻ tẻ ở nhiều nơi. Theo kết quả điều tra của một số tác giả thì tỷ lệ mắc bệnh khá cao ở nước ta, nhất là miền cao nguyên có vùng lên tới trên 90% người mắc bệnh. Bệnh có thể tránh được bằng cách ăn muối có trộn Iốt.
- Người cư dân vùng cao nguyên cảm phải sơn lam chướng khí sinh bệnh.
- Do nội thương tình chí, tức giận nhiều gây tổn thương can, can khí uất kết sinh đàm thấp, khí trệ sinh bệnh. Hoặc lo nghĩ nhiều tổn thương tỳ, kiện vận rối loạn, đàm thấp nội sinh, đàm trọc kết tụ ở cổ. sinh bệnh.
- Thận khí hư tổn ngoại tà xâm nhập: do cơ thể phát triển nhanh, do sinh nhiều, thai nghén, cho con bú đều làm hao tồn thận khí, thủy không đủ muôi mộc, mộc khí uất kết khắc tỳ thổ, chức năng vận hóa rối loạn, đàm thấp nội sinh, khí trệ đàm kết ở cồ mà sinh bệnh.
Tóm lại, bệnh chù yếu do ngoại cảm sơn lam chướng khí (vùng thiếu Iốt) trên cơ thể thận khí suy (do yêu cầu phát triển, sanh nhiều, nuôi con, tinh thần u uất buồn phiền, y....) mà sinh bệnh.
Bệnh phát nhiều ở tuổi thanh niên đang phát triển, nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ cao vào thơi kỳ thai nghén và cho con bú, ở vùng lưu hành cũng gặp nhiều ở tuổi học sinh tiểu học. Lúc bắt đầu triệu chứng không rõ, tuyến giáp to dần, bờ không rõ, sắc da bình thường, không đau, ấn vào mềm, có loại to sệ xuống, cảm giác nặng. Trường hợp nặng đè ép khí quản, thực quản, họng thì có triệu chứng nuốt khó, giọng khàn, thở gấp khó thở, nếu chèn ép mạch máu thì có nổi tĩnh mạch ở cổ.
Chẩn đoán phân biệt: trong chẩn đoán thường cần phân biệt với:
- Nhục Anh: tức u giáp cứng hơn thường, khối u khu trú hình cầu hoặc hình trứng (hình thuẫn).
- Thạch Anh: tức ung thư tuyến giáp, hình thể lồi lõm không đều, cứng như đá, ít hoặc không di động theo động tác nuốt.
- Anh Ung: tức viêm tuyến giáp bán cấp, tuyến giáp sưng đau xuyên sang vùng chẫm sau tai kèm theo họng đau, đau đầu, sốt.
Thường chia ra 2 thể:
+ Khí trệ đờm ngưng: tuyến giáp sưng, bờ không rõ, sắc da bình thường, ấn mềm không đau, to nhỏ thay đổi theo trạng thái vui buồn của người bệnh (vui thì nhỏ, tức giận buồn phiền thì to ra), triệu chứng toàn thân không rõ. Chất lưới hồng nhạt, rêu trắng mỏng hoặc trắng vàng.
Điều trị: Sơ can, lý khí, hóa đờm, tiêu sưng. Dùng bài Tứ Hải Sơ Uất Hoàn (Dương Y Đại Toàn) : Thanh mộc hương 15g, Trần bì, Hải cáp phấn đều 6g, Hải đới, Hải tảo, Côn bố, Hải phiêu tiêu đều 60g, tán bột làm hoàn, mỗi lần uống 9g, ngày 2 lần với nước.
+ Thận Dương Hư Tổn: bệnh nhân đang ở thời kỳ phát triển, hoặc có thai, sau sanh, cho con bú, thường kèm theo triệu chứng váng đầu, lưng gối đau mỏi, mệt mỏi, ra mồ hôi trộm hoặc tự hãn, lưới sắc nhợt ít rêu, mạch hư tế nhược.
Điều trị: bổ ích thận khí, nhuyễn kiên, tán kết. Dùng bài Tứ Hải Sơ Uất Hoàn thêm Thỏ ti tử, Nhục thung dung, Bổ cốt chi, Hà thủ ô để bổ thận, ích khí.
Châm Cứu
+ Ế phong, Đại chùy, Thiên đột, Khúc trì, Hợp cốc. Châm mỗi ngày hoặc cách ngày (Trung Y Ngoại Khoa Học).
Nhĩ Châm
+ Nội tiết tố, Tuyến giáp (Trung Y Ngoại Khoa Học).
Cứu Pháp
Thiên đột, Phong trì, Khúc trì, Trung chử (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Hải tảo, Côn bố đều 15 - 30g, sắc nước, chia hai lần uống trong ngày hoặc làm hoàn uống (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Hải tảo, Côn bố lượng bằng nhau, Thanh bì lượng bằng 1/3 Côn bố, sao vàng tán bột làm hoàn. Mỗi ngày uống 10g, sau bữa ăn tối. Có thể dùng lâu dài (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Uất kim, Đan sâm, Hải tảo đều 15g, sắc uống ngày 1 thang, liên tục trong 3-4 tuần, có thể cho thêm đường uống (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Hải đới 60g, Đậu xanh 150g nấu chín cho đường ăn hằng ngày (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Hạ khô thảo 30g, Hải tảo 60g sắc uống (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Hà thủ ô 20g, Ô mai 10g, Côn bố 15g, sắc uống (Trung Y Ngoại Khoa Học).
+ Lá sinh địa, Hạ khô thảo đều 30g, Sơn tra 20g sắc uống.
. Luôn giữ tinh thần thanh thản thoải mái, tự kiềm chế không tức giận, không buồn phiền, không lo nghĩ quá nhiều.
. Vùng có lưu hành bệnh, chú ý cải tạo nguồn nước và dùng muối Iốt bắt buộc.
. Nên dùng thường xuyên ăn các chất hải tảo và các chất hải sản nhất là phụ nữ thời kỳ cho con bú và thời kỳ có thai, tuổi dậy thì.
Nhục anh tức U giáp lành tính, có đặc điểm lâm sàng là u hình trứng hoặc hình nửa bán cầu, đặc cứng, bề mặt trơn, ấn không đau, di động lên xuống theo động tác nuốt, mầu da bình thường, phát triển chậm, khó tiêu và không vỡ.
+ Tình chí nội thương, tức giận gây tổn thương can, lo nghĩ nhiều làm tổn thương tỳ, Tỳ bị tổn thương thì chức năng kiện vận bị rối loạn, khí trệ, đờm ngưng, huyết ứ, kết tụ ở cổ gây nên bệnh.
+ Thủy thổ bất hòa, vùng cao nguyên nước uống không bình thường, uống lâu ngày gây rối loạn tạng phủ, khí trệ, đờm trọc, huyết ứ tích tụ tại cổ gây nên bệnh.
Tuổi mắc bệnh thường dưới 40, nữ nhiều nam ít, phát hiện cục u một bên hoặc cả hai hình bán cầu hoặc hình trứng bề mặt trơn tru, di động theo động tác nuốt, ấn không đau, phát triển chậm, không có triệu chứng toàn thân rõ rệt. Trường hợp khối u to lên có thể chèn ép khí quản, thực quản gây nuốt khó, khó thở, giọng khàn. Có người kèm theo tính tình nóng, dễ gắt, hồi hộp, ngực tức, ra mồ hôi, kinh nguyệt không đều, chân tay run, mạch Tế Sác, hoặc dễ đói, giảm cân, mệt mỏi, người gầy, rụng tóc, tiêu lỏng, phần nhiều dễ ung thư hóa.
Cần phân biệt với
- Khí Anh: tức bướu giáp đơn thuần.
- Thạch Anh: tức ung thư tuyến giáp, hình thể lồi lõm không đều, cứng như đá, ít hoặc không di động theo động tác nuốt.
- Anh Ung: tức viêm tuyến giáp bán cấp, tuyến giáp sưng đau xuyên sang vùng chẫm sau tai kèm theo họng đau, đau đầu, sốt.
+ Khí Trệ Đờm Ngưng: khối u bề mặt trơn, cứng vừa, ấn không đau, kèm theo ngực đầy tức, họng hơi nghẹn, rêu lưới mỏng hơi nhầy, mạch Huyền Tế.
Điều trị: Khai uất, hóa đờm, nhuyễn kiên, tán kết.
Bài thuốc: Hải Tảo Ngọc Hồ Thang hợp Tiêu Dao Tán gia giảm.
+ Vị Nhiệt Tỳ Nhược: kèm theo triệu chứng ăn nhiều mau đói, người gầy, tiêu lỏng, lười rêu mỏng nhầy, mạch nhu.
Điều trị: Sơ can lý khí, tư âm, thanh vị nhiệt. Dùng bài Hải Tảo Ngọc Hồ Thang hợp Ngọc Nữ Tiễn gia giảm.
+ Can Thận Âm Hư: kèm theo váng đầu, hồi hộp, bứt rứt, ra mồ hôi, tay run, kinh nguyệt lượng ít hoặc bế kinh, lười đỏ, mạch Sác.
Điều trị: tư bổ can thận, dưỡng âm, thanh nhiệt. Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia giảm hoặc bài thuốc kinh nghiệm trị bướu (Đương quy, Đan sâm, Hoàng dược tử, Hạ khô thảo, Sinh mẫu lệ, Côn bố, Hải phù thạch) gia giảm.
+ Đờm ứ ngưng kết: khối u cứng hoặc đau, chất lười đỏ tía, xám, hoặc ban ứ huyết, mạch Tế sáp.
Điều trị: hóa đờm, nhuyễn kiên, khai uất, hành ứ. Dùng bài Hải Tảo Ngọc Hồ Thang, hợp với Tiểu Kim Đơn (Bạch giao hương, Thảo ô đầu, Ngũ linh chi, Địa long, Chế mã tiền tử, đều 45g, Nhũ hương, Một dược (khử dầu) đều 22,5g, Đương qui thân 22,5g, Xạ hương 9g, Mực tàu 3,6g). Tất cả tán bột mịn, dùng bột gạo nếp làm hoàn bằng hạt khiếm thực, mỗi lần uống 1 hạt, ngày 2 lần với rượu. Phụ nữ có thai không dùng.
+ Dán cao: dùng Dương Hòa Giải Ngưng Cao.
+ Châm cứu: Chọn huyệt Định suyễn, châm cách nhật.
Hoặc châm kim thẳng quanh bướu.
1. Luôn giữ tinh thần thanh thản, tránh giận dữ, lo buồn.
2. Trường hợp trị lâu không thấy tiến bộ hoặc khối u to hơn nên cắt bỏ
Nhằm bình thường hóa nồng độ hormon tuyến giáp, mà không đòi hỏi tuyến giáp phải tăng hoạt và phì đại, do đó nếu bệnh nguyên:
Thiếu iode thì cung cấp iode, không do thiếu iode, cung cấp thêm hormon giáp tổng hợp.
Trong bướu giáp đơn do thiếu iode, điều trị bằng iode hay hormon giáp làm tuyến giáp nhỏ lại nhiều hay ít thay đổi tuỳ thuộc nhiều yếu tố, như thời gian xuất hiện bướu, kích thước bướu, độ xơ hoá của bướu.
Trong những nguyên nhân khác gây bướu giáp đơn lan toả không độc,
Levothyroxine có thể được dùng với mục đích nhằm giảm kích thước tuyến giáp
Đối với bướu giáp do thiếu iode hay bướu giáp địa phương:
Phần lớn không hoặc ảnh hưởng rất ít đến chức năng tuyến giáp, nhưng nguyên nhân chính là do thiếu iode, nên tốt nhất là đưa iode vào điều trị và dự phòng, Iode có nhiều dạng:
Iode dưới dạng iodur de potassium (IK) (Lugol) 1 mg muối KI/ngày, tối thiểu trong 6 tháng, hoặc iodat de potassium (KIO3).
Cần theo dõi biến chứng Iode-Basedow.
Tuy nhiên vì cơ chế Feedback còn bình thường, nên có thể sử dụng hormon giáp
để làm giảm thể tích tuyến giáp. L. Thyroxine viên được chỉ định khi:
Lâm sàng và siêu âm xác định bướu giáp lớn.
Nồng độ Thyroxine giảm và TSH huyết tương tăng.
Thể tích tuyến giáp có nhỏ lại so với trước khi điều trị
Thyroxin (Levothyroxine, L-Thyroxine, Levothyrox) (T4), viên 50mg, 75mg, 100mg, liều tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh nhân 0.5- 2 viên/mg
Levothyroxine có 1/2 đời là 7 ngày, hấp thu tốt, dùng buổi sáng để tránh mất ngủ.
Triodothyronine (Liothyronine) (T3) viên 25 mg, 1- 2 viên/mg, ít dùng vì hấp thu nhanh, 1/2 đời ngắn, hiệu quả chỉ thoáng qua. Không dùng ở bệnh nhân THA, bệnh mạch vành.
Ở người trẻ, liều bắt đầu 100 mg/ngày, và ngưng khi TSH ở mức bình thường-thấp
Theo dõi cho tăng liều dần để đạt hiệu qủa tốt, theo dõi biến chứng cường giáp (mạch nhanh, gầy).
Ở bệnh nhân già, liều khởi đầu 50 mg/ngày, cần cho liều tăng dần theo dõi cơn đau thắt ngực và đo điện tim.
Hạn chế tối đa phẩu thuật vì bướu giáp trong trường hợp này lớn là do hoạt động bù, nếu cắt bỏ dễ bị suy giáp, nhất là hiếm khi chỉ định đối với các bướu lớn lan toả. Tuy nhiên can thiệp phẩu thuật có thể đặt ra trong những trường hợp sau:
Bướu giáp quá lớn gây chèn ép (khó nuốt, khó thở, nói khàn). Bướu giáp lâu năm dễ bị ung thư hoá hoặc nghi ngờ ung thư hoá bướu nhiều nhân
Vì lý do thẩm mỹ sau khi phẩu thuật, phải thường xuyên kiểm tra FT4, TSH để phát hiện suy giáp kịp thời
*********************************
|