Viêm gan là tổn thương tại gan với sự có mặt tế bào bị viêm trong mô gan, có thể dẫn tới việc gây sẹo tại gan
Tùy theo điều kiện bị mắc bệnh và thời gian kéo dài của bệnh mà người ta phân chia thành bệnh viêm gan cấp tính và bệnh viêm gan mãn tính. Viêm gan cấp tính phát sinh đột suất, thời gian lâm bệnh ngắn, thường được phục hồi sau vài tháng hoặc có thể tiến triển dẫn tới suy gan. Viêm gan mạn tính là trạng thái viêm tế bào gan kéo dài trên 6 tháng.
- Da và lòng trắng mắt (củng mạc) vàng, dấu hiệu này gọi là hoàng đản và thường là dấu hiệu đầu tiên, đôi khi là dấu hiệu duy nhất của bệnh gan.
- Nước tiểu sậm màu, phân vàng hoặc bạc màu, chán ăn, đau bụng, nôn ra máu, đi ngoài(cầu) phân đen hoặc có máu.
- Bệnh gan có thể gây ra bụng báng( cổ trướng) do ứ đọng dịch trong khoang ổ bụng, ngứa kéo dài và lan rộng hoặc thay đổi cân nặng bất thường (trọng lượng cơ thể tăng hoặc giảm quá 5% trong vòng 1- 2 tháng).
- Rối loạn giấc ngủ, tâm thần, mệt mỏi hoặc giảm khả năng chịu đựng, mất sự ham muốn và khả năng tình dục… nặng nhất là hôn mê Gan…mà hậu quả này là do sự ứ đọng các chất độc trong cơ thể gây tổn thương chức năng của não bộ.
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng của viêm gan siêu vi thì bệnh thuộc phạm trù các chứng Hoàng Đản, hoặc Hiếp Thống.
Theo YHCT, nguyên nhân bệnh chủ yếu là do cảm nhiễm thấp nhiệ bên ngoài, uất kết ở Tỳ Vị, chức năng vận hóa rối loạn gây nên chán ăn, đầy bụng, ảnh hưởng đến Can Đởm, gây nên khí huyết ứ trệ, ha sườn đau, bụng đầy, mật ứ, miệng đắng.Thấp nhiệt thịnh nung đốt bì phu sinh ra vàng da (hoàng đản).
Ăn uống không điều độ, uống nhiều rượu cũng làm tổn thương Tỳ Vị, thấp nhiệt nội sinh, nung nấu Can, Đởm dẫn đến vàng da, đau sườn, mệt mỏi, chán ăn.
Ngoài ra, người bệnh do cảm phải tà khí dịch lệ sinh ra nhiệt độc công phá bên trong làm cho phần vinh, huyết bị tổn thương. Nhiệt độc thãm vào Tâm bào gây nên hoàng đản cấp, sốt cao, mê man, nói sảng, chảy máu cam, tiêu ra máu...
a. Yếu tố dịch tễ: tình hình dịch bệnh, tiếp xúc bệnh nhân, lịch sử truyền máu, chích thuốc, châm cứu, nhổ răng...
b. Triệu chứng lâm sàng: chán ăn, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, vàng da, gan to, vùng gan đau...
c. Hội chứng hủy hoại tế bào gan: Transaminase tăng: GPT (ALT) tăng nhiều hơn GOT (AST) tăng rất cao gấp 5- 10 lần trị số bình thường.
d. Tìm chứng cớ nhiễm vi rút: HBSAG (kháng nguyên bề mặt của vi rút viêm gan B) dương tính trong HBV, còn đối với HAV thì phân lập vi rút trong phân và xuất hiện IGM kháng HAV trong huyết thanh.
e. Các phương pháp kiểm tra gan bằng siêu âm và sinh thiết gan.
a. Viêm gan thời kỳ đầu và thể không vàng da: dễ bị bỏ qua do nghĩ viêm họng, cảm mạo, rối loạn tiêu hóa.
Cần hỏi kỹ lịch sử tiếp xúc và tình hình dịch bệnh.
b. Viêm gan do nhiễm độc, nhiễm trùng trong các bệnh thương hàn, viêm ruột do trực khuẩn coli gây vàng da, SGOT, SGPT máu tăng nhưng sốt kéo dài, có triệu chứng riêng của bệnh.
c. Vàng da do bệnh xoắn trùng: có ban chẩn, cơ bắp đau, anbumin niệu, xoắn trùng trong máu, thử nghiệm ngưng kết huyết thanh dương tính.
d. Vàng da do tắc mật: tắc mật ở người lớn thường do sạn ống mật, u đầu tụy có triệu chứng riêng, cần cảnh giác.
e. Vàng da do nhiễm độc thuốc: Chú ý hỏi tiền sử dùng thuốc như dùng thuốc có Thạch tín, Rimifon, Chlorproilazin, thuốc chống ung thư...
f. Đau bung cấp do viêm gan cần phân biệt với viêm ruột thừa, giun chui ống mật, giun đường ruột...
g. Ung thư gan: người gầy, gan to nhanh, đau nhiều.
Viêm gan do vi rút A nếu có chế độ nghỉ ngơi, chăm sóc ăn uống tốt thường được hồi phục trong vòng 10-15 ngày, ít khi kéo dài. Viêm gan vi rút B dễ chuyển thành mạn tính, một số ít tiến triển thành xơ gan rất ít trường hợp chuyển thành ung thư gan.
Theo YHCT, viêm gan vàng da thuộc phạm trù chứng Hoàng đản, phép trị chính là: Thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết, giải độc (đối với viêm gan cấp, thể tối cấp), sơ can, kiện tỳ, hòa vị, tiêu thực (đối với thể không vàng da, thời kỳ hồi phục), hoạt huyết, hóa ứ (đối với viêm gan mạn, xơ gan). Tùy theo tính chất bệnh mà dùng phép trị thích hợp.
Thường gặp 3 thể:
Triệu chứng: Da mắt vàng tươi, bứt rứt khó chịu, người nóng, bực tức, chán ăn miệng đắng khô, bụng đầy hoặc nôn, buồn nôn, mệt mỏi, ngứa hoặc không, tiểu ít vàng như nước vối, táo bón, rìa lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch Huyền Hoạt, Sác hoặc Nhu Sác.
Pháp: Thanh lợi thấp nhiệt.
Dùng bài Nhân Trần Cao Thang gia giảm:
| Nhân trần | 40 | Chi tử | 12 | Sinh đại hoàng | 8 | ||
| Bồ công anh | 10 | Thổ phục | 10 | ||||
Trường hợp thấp năïng thêm Hậu phác, Thương truật, Trạch tả. Nhiệt thịnh thêm Hoàng bá, Thạch cao.
Triệu chứng: khát, bứt rứt, vàng da nặng lên rất nhanh, ngực bụng đầy tức, táo bón, tiểu vàng đỏ, nặng thì hôn mê, nói sảng, co giật, tiêu tiểu có máu, lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng nhớt, khô, mạch Hoạt Sác.
Pháp: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, cứu âm
| Tê giác | 30 | Sinh địa | 20 | Xích thược | 12 | ||
| Đan bì | 12 | Chi tử | 12 | Nhân trần | 16 | Bản lam căn | 40 |
| Thạch hộc | 12 | ||||||
Nếu sốt cao mê man: thêm An Cung Ngưu Hoàng hoặc Chí Bảo Đơn để thanh tâm, khai khiếu.
Triệu chứng: Mạn sườn đau tức, bụng trên đầy hơi, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, miệng đắng, chán ăn, chất lưỡi đỏ nhợt, mạch Huyền.
Pháp: Sơ Can, hòa Vị. Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm: Sài hồ, Bạch thược, Hương phụ đều 12g, Chỉ xác, Trần bì, Xuyên khung, Chích thảo đều 6g.
Có triệu chứng thấp nhiệt thêm Hoàng bá, Nhân trần. Ngực đau nhiều thêm Uất kim. Nôn, buồn nôn thêm Gừng tươi, Bán hạ, Trúc nhự. Trường hợp có triệu chứng Tỳ hư, dùng bài Tiêu Dao Tán gia giảm.
Triệu chứng: Toàn thân sắc vàng sáng, đau sườn phải, lợm giọng buồn nôn, ăn kém, đầy bụng mệt mỏi, tiểu tiện vàng sẫm, tiểu tiện ít, hơi sợ lạnh, miệng đắng, rêu dầy dính, mạch nhu sác,
Pháp trị: Thanh nhiệt táo thấp, thoái hoàng lợi niệu, nhuận tràng ,(nếu táo )
| Viêm gan cấp thấp nhiệt | Trư linh | 16 | Trạch tả | 12-20 | Bạch linh | 12-18 | |
| Bạch truật | 12-18 | Nhân trần | 40 | Chi tử | 8-16 | Đại hoàng | 4-8 |
| Sa tiền | 20 | Đại phúc bì | 15 | Khiếm thực | 20 | Hoàng bá N | 10 |
| Đẳng sâm | Thanh bì | ||||||
Hết giai đoạn sốt chỉ còn hoàng đản với các
Triệu chứng: Về tiêu hoá ăn kém,chán ăn,chậm tiêu, nước tiểu ít thỡ thanh nhiệt táo thấp, lợi niệu , kiện tỳ
Bệnh Hoàng đản Có chứng can kinh thấp nhiệt thì toàn thân mặt mắt đều vàng, đau sườn, đắng miệng, sợ thấy mùi tanh tao thơm hắc, mỏi mệt vô lực.
Thấp nặng hơn thì sắc vàng tối trệ, mình nặng, đầu như bị bọc, ăn kém, đại tiện lỏng, lưỡi đỏ rêu trắng xen vàng mà nhớt, mạch nhu không sác.
Nếu nhiệt nặng hơn thì sắc vàng tươi như trái quýt, mình nóng, tâm phiền, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ, chất lưỡi đỏ, gốc lưỡi có rêu vàng nhớt, mạch trầm huyền mà sác.
Pháp trị: Loại trên tuyên khí hoá thấp thanh nhiệt,
Dùng bài Nhị kim thang (Ôn bệnh điều biện) gia nhân trần. Loại sau nên sơ can lợi đởm, thanh lợi thấp nhiệt.
Cho uống bài Tứ nghịch tán (Thương hàn luận) bỏ Cam thảo hợp với bài Nhân trần cao thang (Thương hàn luận)
Triệu chứng: Hoàng đản ngày càng nặng , sốt cao trằn trọc vậtvó cú thể hụn mờ co giật có thể chảy máu , bụng đầy chứng chất lưỡi đỏ giáng mạch huyền sác
Phương trị: Thanh nhiệt lương huyết thanh nhiệt giải độc, tồn âm cần phải
Triệu chứng: Người mệt mỏi vô lực,ăn kém,chậm tiêu,chán ăn ,tiểu tiện vàng đại tiện táo hay nát, rêu trắng dính hay vàng dính,mạch huyền sác , hoạt sác
Pháp trị: Thanh nhiệt lợi thấp
| Viêm gankhông vàng da | Chi tử | 8 | Nhân trần | 12 | Hương phụ | 8 | |
| ý dĩ | 16 | Sa tiền | 16 | Đại phúc bì | 12 | Ngân hoa | 16 |
| Tứ linh tán | Trư linh | 16 | Trạch tả | 12-20 | Bạch linh | 12-18 | |
| Bạch truật | 12-18 | ||||||
Thường gặp 2 thể:
Triệu chứng: Bệnh nhân không sốt, da không vàng hoặc vàng nhẹ, gan còn sờ được dưới bờ sườn, mạn sườn đầy tức hoặc ấn đau, chán ăn, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, rêu lưỡi dày nhớt, mạch Huyền Hoạt.
Pháp: Sơ Can, kiện Tỳ.
Bài thuốc: Tiêu Dao Tán gia giảm:
| Đương qui | 12 | Sài hồ | 12 | Bạch truật | 12 | ||
| Bạch linh | 12 | Hà thủ ô | 12 | Uất kim | 12 | Bạch thược | 20 |
| Đan sâm | 8 | Trần bì | 8 | Hậu phác | 8 | Cam thảo | 4 |
| Sinh khương | |||||||
Bệnh nhân mệt mỏi nhiều thêm Nhân sâm 8g (hoặc Đảng sâm 12g), huyết kém hay chóng mặt, mắt mờ thêm Tang thầm, Kỷ tử. Sắc da còn vàng thêm Nhân trần, Chi tử.
Triệu chứng: Sắc mặt kém tươi nhuận, môi thâm tím, gan to, ấn đau, mạn sườn đau tức, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, rêu vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Khẩn.
Pháp: Hoạt huyết, hóa ứ.
Bài thuốc: Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm
| Đương qui | 12 | Sinh địa | 12 | Ngưu tất | 12 | ||
| Sài hồ | 12 | Uất kim | 12 | Bạch truật | 12 | Bạch thược | 10 |
| Xích thược | 10 | Xuyên khung | 8 | Đào nhân | 8 | Hồng hoa | 6 |
| Trần bì | 8 | Hậu phác | 8 | ||||
Gan to cứng thêm Miết giáp, Mẫu lệ; Bụng đầy hơi thêm Mộc hương, Sa nhân; Vùng gan đau nhiều thêm Nhũ hương, Một dược. Trường hợp khí hư thêm Nhân sâm (hoặc Đảng sâm), Hoàng kỳ.
Triệu chứng: Đầu choáng, hồi hộp, ít ngủ, haymê, bàn tay bàn chân nóng, khát nước, miệng khô, họng khô, hay tức giận, chất lươi đỏ , Táo , nước tiểu vàng, mạch huyền tế sác
Pháp: Bổ can âm(tư dưỡng can âm, tư âm dưỡng can)
| Viêm gancan âm hư | Sa sâm | 15 | Thục địa | 12 | Mạch môn | 12 | |
| Thiên môn | 8 | Kỉ tử | 12 | Huyết dụ | 16 | Hoài sơn | 16 |
| ý dĩ | 16 | Hà thủ ô | 12 | Sinh địa | 12 | Trinh nữ tử | 12 |
| Bạch thược | 12 | Táo nhân | 12 | Địa cốt bì | |||
Bệnh viêm gan siêu vi tuy trên lâm sàng thường gặp các thể trên đây nhưng thường lẫn lộn vì vậy cần chú ý khi biện chứng luận trị.
Những Điều Cần Chú Ý Trong Điều Trị Bệnh Viêm Gan Siêu Vi
Bệnh nhân cần có chế độ sinh hoạt điều độ, nghỉ ngơi đầy đủ, không lao động trí óc hoặc chân tay quá sức gây mệt mỏi. Về chế độ ăn, cần dùng các thức ăn dễ tiêu như rau đậu, trái cây, sữa, cá, thịt nạc, cũng không nên ăn nhiều vì thịt là loại thức ăn khó tiêu đối với người đau gan, rất hạn chế ăn các chất dầu mỡ. Không ăn các chất cay nóng như ớt, tiêu, rượu, thuốc lá... Lúc chức năng gan kém cần thận trọng lúc dùng thuốc trụ sinh hoặc các loại thuốc cổ truyền có độc như Phụ tử, Ô đầu, Nhũ hương, Một dược, Tam lăng, Nga truật...
Bệnh nhân viêm gan siêu vi A thời kỳ cấp tính nên nằm viện cách ly ít nhất 30 ngày sau khi phát hiện vàng da, bệnh chưa khỏi thời gian cách ly dài hơn.
Do viêm gan có vàng da kéo dài còn gọi là âm hoàng
Triệu chứng: Da vàng tối ,miệng đắng không muốn ăn, bụng đầy chướng ngực sườn đầy tức, miệng khô nhớt, nóng đau nhiều ở vùng gan, da sắc tối tiểu tiện vàng, nhớt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mạch huyền
Pháp trị: Thanh nhiệt lợi thấp,thoái hoàng; Kiện tỳ trừ thấp
| Viêm gan can nhiệt tỳ thấp | Chi tử | 12 | Uất kim | 8 | Ngưu tất | 8 | |
| Nhân trần | 40 | Hoài sơn | 12 | ý dĩ | 16 | Biển đậu | 12 |
| Mao căn | 12 | Sa tiền | 12 | Ngũ gia bì | 12 | Bạch truật | 12 |
| Phục linh | 8 | Trư linh | 8 | Đậu khấu | 8 | Trạch tả | 12 |
| Đại phúc bì | 12 | Mộc thông | 12 | Cam thảo | 4 | Hoạt thạch | 12 |
| Đẳng sâm | 16 | Hoàng cầm | 12 | ||||
Hay gặp ở viêm gan mãn do viêm gan siêu vi trùng
Triệu chứng: mạng sườn phải đau, ngực sườn đầy tức,miệng đắng,ăn kém người mệt,đại tiện nát, lưỡi nhạt non bệu, rêu trắng mỏng ,
Pháp trị: Sơ can kiện tỳ,lý khí
| Viêmgan can uất tỳ hư khí trệ | ý dĩ | 16 | Hoài sơn | 16 | Biển đậu | 12 | |
| sài hồ sơ can – lục quân tử | Bán hạ | 8 | Uất kim | 8 | Hậu phác | 8 | |
| Thanh bì | 8 | Sài hồ | 8 | Bạch thược | 12 | Chỉ thực | 8 |
| Qui đầu | 12 | Trích thảo | 4 | Xuyên khung | 8 | Hương phụ | 8 |
| Trần bì | 10 | Bạch truật | 12 | Bạch linh | 12 | Cam thảo | 6 |
| Đẳng sâm | 16 | Sinh khương | 3lát | ||||
Triệu chứng: Đầu choáng, hồi hộp, ít ngủ, haymê, bàn tay bàn chân nóng, khát nước, miệng khô, họng khô, hay tức giận, chất lươi đỏ , Táo , nước tiểu vàng, mạch huyền tế sác
Pháp trị: Bổ can âm(tư dưỡng can âm, tư âm dưỡng can)
| Viêm gancan âm hư | Sa sâm | 15 | Thục địa | 12 | Mạch môn | 12 | |
| Thiên môn | 8 | Kỉ tử | 12 | Huyết dụ | 16 | Hoài sơn | 16 |
| ý dĩ | 16 | Hà thủ ô | 12 | Sinh địa | 12 | Trinh nữ tử | 12 |
| Bạch thược | 12 | Táo nhân | 12 | Địa cốt bì | |||
Hay gặp ở thể viêm gan mãn có kèm thêm hội chứng tăng áp lực tĩnhmạch cửa,
Triệu chứng: Sắc mặt tối xạm, môi thâm, lưỡi tím, lách to ( dưới sườn có khối và đau ấn vào khó chịu), người gầy, ăn kém, tuần hoàn bàng hệ ở bụng, đại tiện táo hay nát, nước tiểu vàng ít, chất lưỡi đỏ hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi vàng dính, mạch huyền sáp
Pháp : Sơ can lý khí, hoạt huyết
| Viêm gan khí trệ huyết ứ | Qui đầu | 12 | Đẳng sâm | 20 | Bạch thược | 12 | |
| Đào nhân | 10 | Hồng hoa | 10 | Xuyên khung | 8 | Huyền hồ | 8 |
| Kê huyết đằng | 12 | Uất kim | 8 | Tam lăng | 8 | Nga truật | 8 |
| Chỉ sác | 8 | Sinh địa | 12 | Mẫu lệ | 16 | Qui bản | 12 |
Triệu chứng : Sắc mặt vàng tối, bụng đầy, buồn bực, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi , đại tiện thất thường , Lưỡi nhạt ,mạch nhu hoãn
| Viêm gan hàn thấp | Nhân trần | 40 | Bạch truật | 12 | Phụ tử | 6-8 | |
| Can khương | 8-10 | Cam thảo | 4 | ||||
Triệu chứng : Da vàng mệt mỏi, ngại cử động, hồi hộp, ít ngủ, đại tiện không tốt, mạch nhu tế
Pháp trị: Kện tỳ ôn trung
| Viêm gan hư hoàng | Bạch thược | 12-16 | Trích thảo | 3-6 | Táo | 4q | |
| Quế chi | 6-8 | Sinh khương | 8-12 | Đường phèn | 20-40 | ||
Khí hư gia: Đẳng sâm, Hoàng kỳ,
Huyết hư gia: Sinh qui ;
Dương hư sợ lạnh dùng nhục quế
Chó đẻ răng cưa, nhọ nồi?
ý nghĩa các xét nghiệm cận lâm sàng viêm gan B
SGOT (Serin glutamo oxalo transaminase) và SGPT ( Serin Glutamo pyruvic)là hai men có trong tế bào gan, Men SGPT khu trú trong nguyên sinh chất , men SGOT cư trú trong ti lạp thể của tế bào gan
Bình thường SGOT < 37 UI/l).
SGPT <40UI/l
Khi tế bào gan bị phá huỷ, giải phóng hai men này vào máu làm nồng độ men trong máu tăng cao. Khi nồng độ của hai men này tăng cao gấp 5 lần chỉ số bỡnh thường mới có giá trị chẩn đoán viêm gan B
HbsAG (hepatitis B surface antigen) là khỏng nguyờn bề mặt của VR viêm gan B
Trong giai đoạn có triệu chứng bệnh ,bệnh nhân nên ăn nhiều lần , mỗi lần ăn một ít , khẩu phần nhiều đạm , nhiều đường và ít chất mỡ, không nên uống rượu trong thời kỳ có triệu chứng và cả thời kỳ phục hồi.Bệnh nhân nên nghỉ ngơi trong giai đoạn này
Nên kiêng rượu ,bia ,mỡ động vật, nên ăn nhiều bữa, ăn nhiều rau quả ,
trái cây
Ðối với bệnh nhân xơ gan : nên nghỉ ngơi là chính sẽ làm giảm các sản
phẩm chuyể hóa ở gan và tăng tưới máu thận , nên hạn chế ăn mặn Na+ mỗi
ngày khoảng 0,5- 2 g.
Bệnh viêm gan do siêu vi khuẩn (viral hepatitis).
Viêm gan (xưng gan) rất nguy hiểm vì nó âm thầm lặng lẽ phá hoại gan mà bệnh nhân không có hoặc rất ít có triệu chứng rõ rệt cho đến khi bệnh phát nặng
Có năm loại viêm gan do siêu vi khuẩn. Đó là các viêm gan A,B,C,D và E
Siêu vi khuẩn viêm gan A được tìm thấy trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu, nhưng nhiều nhất vẫn là ở phân của người có bệnh. Siêu vi khuẩn viêm gan A theo thức ăn, nước uống nhiễm khuẩn xâm nhập vào cơ thể của chúng ta.
Bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào, và nếu có, không cần chữa tự nhiên cũng hết. Siêu vi khuẩn viêm gan A chỉ gây sưng gan cấp tính (acute inflammation) chứ không tạo nên những biến chứng lâu dài, như sơ gan (fibrosis), chai gan (cirrhosis), hoặc ung thư gan (cancer)
Bệnh có thể chích ngừa được. Thuốc rất an toàn và công hiệu.Nếu chưachích ngừa hoặc trong người chưa cókháng thể chống siêu vi khuẩn viêm gan A, thì các bạn phải giữ vệ sinh(rửa tay bằng xà bông trước và sau khidùng nhà cẩu, rửa tay cẫn thận trườc và sau khi ăn hay làm bếp,rửa sạch các bát đĩa của người bệnh) vàtránh quan hệ tình dụcvới ngườiđang ở thời kỳ ủ bệnh
Bệnh viêm gan B làbệnh truyền nhiễm, nên tất cả chúng ta ai ai cũng có thể bị, không kể tuổi tác. Siêu vi khuẩn viêm gan B được tìm thấy trong máu, mồ hôi, nước bọt, nước mắt cũng như nước tiểu và tinh dịch của bệnh nhân.Bệnh thường lây trực tiếp từ người này qua người kia . dễ dàng nhất là qua máu ( nhưlây từ mẹ khi mới sanh, tiếp máu, dùng kim chích và dung cu y khoa thiếu vệ sinh, hoặc bị nhiểm qua vết trầy trụa hay côn trùng) và qua đườngsinh lý (tinh dịch). Chung đụng trong đời sống hằng ngày ,như đụng vào mồ hôi nước mắt của người bệnh, cũng có thể bị lây. Tuytrong nước bọt của bệnh nhân viêm gan B cũng thấy có một số ít vi khuẩn nhưng cho tới nay chưa ai bị lây bệnh viêm gan B khi ăn uống chung với người có bệnh.
Siêu vi khuẩn viêm gan B có thể gây ra nhữngtriệu chứng cấp tính. Những triệu chứng này thay đổi nhiều, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân khi bị lây bệnh.Bệnh có thể từ rất nhẹ và mơ hồ như những cơn cảm cúm thông thường không đáng kể đến rất nặng phải nhập viện để điều trị.Viêm gan B là một trong những nguyên nhân chính gây ra viêm gan cấp tính (acute hepatitis), viêm gan kinh niên (chronic active hepatitis), chai gan (liver cirrhosis) và ung thư gan (liver cancer).Rượu, bia và một số thuốc men trong đó có dược thảo có thể làm gan bị chai lẹ hơn.
Phương pháp duy nhất để định bệnh viêm gan B làthử máu. Cácphép thử nghiệm khác nhưsiêu âm ,. chụp scanchỉ cho biết thể chấthình thù và kích thước của gan ,còn sinh thiết gan chỉ giúp bác sĩ biết về sự tiến triển và trang thái bệnh tật của gan
Bệnh có thể đượcchữa trị bằng thuốc uống(lamivudine, adefovir , zadaxin thymosin alpha 1) hoặcthuốc chích dưới da(interferon)Tuy cách thức chữa bệnh đã được cải tiến rất nhiều nhưng c ũng chỉ có khả năng giảm thiểu sự tàn phá của siêu vị khuẩn viêm gan B chứ không hoàn toàn loại bỏ siêu vi khuẩn này ra khỏi cơ thể.Vì thế hơn lúc nào hết, phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh.Thuốc chủngngừa rất hiệu nghiệmnếu được chích ngừa đúng cách (chích 3 mũi). Ngoài ra các kim chích và dụngcụ y khoa phải đượckhử trùng đềtiêu diệt siêu vi khuẩn viêm gan B bẳng cách đun sôi ở100 độ C trong vòng 1 đến 5 phút, hoặc sát trùng bằng glutaraldehyde, chloroform hoặc formalin ( tia cực tím , ether cũng như alcohol không đủ mạnh).
Bệnh viêm gan C làbệnh truyền nhiễmnên chúng ta ai ai cũng có thể bị. Bệnh có thể lây qua máu như từ mẹ khi mới sanh, tiếp máu, dùng cácvật dungthiếuvệ sinh nhưđồ cạo râu,bàn chải đánh răng, kim châm cứu, xâm mình, cạogió và các dụng cụ mổ xẻ . Bệnh cũng có thể lây quađường sinh lý , nhưng trường hợp này hiếm. Đôi khi người ta có thể vô tình bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan Ctrong lúc té ngã, trầy trụa hoặc đứt tay chân . Tuy một số siêu vi khuẩn viêm gan C được tìm thấy trong mồ hôi và nước bọt nhưng , ăn uống chung hoặc va chạm thể xáchàng ngày với bệnh nhân viêm gan C không có gìnguy hiểm.
Siêu vi khuẩn viêm gan C có thể gây ra nhữngtriệu chứng cấp tínhthông thường 7 hay 8 tuần sau khi lây bệnh. Khoảng 30% bênh nhân bỗng dưng cảm thấy hơi khó chịu như bị cúm nhẹ. Một số bệnh nhân khác có thể bị nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức khớp xương và bắp thịt. Nhiều khi họ cũng cảm thấy buồn nôn, khó chịu, đau bụng, tiêu chảy, ăn kém ngon, xuống cân và đôi khi bị sốt hoặc nổi ngứa. Khoảng 30% bệnh nhân viêm gan C có da và mắt trở nên vàng . Các triệu chứng nêutrên thường kéo dài từ 6 đến 8 tuần và từ từ thuyên giảm, rồi hoàn toàn biến mất sau một thời gian ngắn. Bấy giờ, bệnh chuyển qua giai đoạn hoặc im lìm tức không hoạt động(dormant) hoặc mãn tính tứctiếp tục tăng trưởng(chronic). Trong thời kỳ sơ khởi của giai đoạn mạntính vẫn chỉ có những triêu chứng mơ hồ không đáng kểnhư là mệt mỏi thường vào xế chiều , mất dần khả năng tập trung tư tưởng , đau lâm râm hoặc đau nhói phần bụng trên dưới xương sườn bên phải hoặc buồn nôn, khó chịu, da nổi ngứa, đau khớp xương và bắp thịt. Nếu không được khám phá và chữa trị kịp thời, bệnh mỗi ngày một nặng hơn đưa đến sơ gan, rồi chai gan saumộtthời gian trung bình là 20 năm. Thời gian chai gan có thể ngắn hơn nếubệnh nhân đã bịlâydo tiếp máu nhiễm khuẩn , uống nhiều rượu bia, uốngmộtsố thuốc khác nhau hoặc bị nhiễmnhiều loại vi khuẩn viêm gan khác nhau.
Thử máuđịnh kỳ hằng nămlà phương pháp thường xuyên nhất trong việctìm kiếm bệnh viêm gan C. Phép siêu âm gan không cho biết gan bị viêm hay không nhưnggiúp bác sĩ có một khái niệm về hình thù và kích thước của gan ( gan bị chai có thểnhỏ hơn bình thường) và nhận diện được một số bệnh khác, như bướu gan (tumor), sạn trong túi mật (gallstone), gan đóng mỡ (fatty liver) hoặccổ trướng (ascites).Ngoài ra sinh thiết gan có thể mang lại cho bác sĩ nhiều dữ kiện quan trọng trong việc định bệnh và chữa bệnh viêm gan
Viêm gan C có thể đươcchữa trị bẳng thuốc uống(ribavarin) vàthuốcchích dướida(peginterferon, zadaxin (thymosinalpha 1)) . Hai thuốc ribavarin và interferon gây nhiều phản ứng phụ, con thuốc mới zadaxin (thymosin alpha 1) đươc xem là an toàn, gây ít phản ứng phụHiện nay chưa có thuốc chủng ngừa chống viêm gan C
Viêm gan D là một bệnhtruyền nhiễm "có điều kiện" ,nói một cách khác chỉ nguy hiểm cho những người đang hoặc sẽ bị bệnh viêm gan B mà thôi. Vì vậy những người được miễn nhiễm bệnh viêm gan B sẽ không sợ bị lâybệnh viêm gan D.Viêm gan D thường lây qua đường máu và đường sinh lý. Tuy nhiên, bệnh chỉ lây qua những người đang bị viêm gan B với kháng nguyên HBsAg mà thôi. Trong những năm gần đây, chích thuốc phiện đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh viêm gan D, nhất là khi những người nghiện thuốc này dùng chung kim với nhau.
Triệu chứngcủa viêm gan D lệ thuộc vào tình trạng nhiễm vi khuẩn viêm gan B của lá gan. Nếu vi khuẩn viêm gan B đang tàn phá lá gan, siêu vi khuẩn viêm gan D cũng "đánh ké". Nếu vi khuẩn viêm gan B bị tiêu diệt bởi hệmiễn dịch của bệnh nhân thì vi khuẩn viêm gan D cũng sẽ "chết theo".
1--Bệnh nhân có thể cùng một lúc lây cả hai bệnh viêm gan B và D (đồng nhiễm-coinfection).Vìviêm gan D thường gây ra những triệu chứng tương tự như bệnh viêm gan B nên khi cơ thể bị tấn công một lúc bởi hai loại siêu vi khuẩn viêm B và D các triệu chứng có thể trầm trọng hơn, và bệnh có thể kéo dài hơn.Bệnh nhân bị nhiễm cùng một lúcviêm gan B và D sẽ có một số triệu chứng điển hình của bệnh viêm gan B trước, rồi sau đó, khi bệnh có vẻ như đang thuyên giảm thì các triệu chứng như vàng da, nhức đầu, buồn nôn, chóng mặt v.v. bắt đầu trở lại do đợt tấn công thứ hai; lần này do siêu vi khuẩn viêm gan DTùy theo tuổi tác khi bị lây bệnh, những triệu chứng kể trên có thể rất rõ rệt hoặc mơ hồ.
2-Bệnh nhân đang bị viêm gan B bị lây thêm bệnh viêm gan D ( Bội nhiễm- superinfection):Ðây là trường hợp rất nguy hiểm Với sự bành trướng của siêuvi khuẩn viêm gan D trong một cơ thể đang bị nhiễm trùng bởi siêu vi khuẩn viêm gan B, bệnh sẽ trở nên rất trầm trọng với những hậu quả vô cùng tai hại trong một thời gian rất ngắn. Ngay cả trong trường hợpsiêu vi khuẩnB đang "ngủ yên", (dormant) siêu vi khuẩnD cóthểđánh thức v àcảhai sẽhợp lực tàn phálágan. nhanh chóng (từ 3 đến 5 năm).
Cũng như các bệnh viêm gan siêu vi khuẩn khác,thử máulà phương pháp độc nhất và chính xác nhất trong việc định bệnh viêm gan D. Phép siêu âm cũng hữu ích
Vì viêm gan D cấp tính dễ trở thành ác tính, bệnh nhân cần được theo dõi một cách kỹ lưỡng. Khi bệnh trở nên ác tính, bệnh nhân bắt đầu có nhữngtriệu chứngcủa loạn trí như mất dần tự chủ, chóng quên, ăn nói "lung tung" hoặc nặng hơn nữa, sẽ bị hôn mê, bất tỉnh v.v. Khi máu trở nên quá loãng, họ có thể bị chảy máu cam, ói ra máu, đi cầu phân đen như mực, da dễ bị bầm tím. Trong trường hợp này, bệnh nhân phải được đưa vào cấp cứu vì gan có thể bị tàn phá một cách rất nhanh chóng và nếu không được ghép gan, bệnh nhân có thể chết . Khác với bệnh viêm gan B bệnh viêm gan D có khuynh hướng trở thành kinh niênnếu không chữa trị , để rồi tiếp tục tàn phá lá gan. Vi khuẩn viêm gan D được xem là một trong những vi khuẩn viêm gan dữ tợn và nguy hiểm nhất,
Cho tới nay, chỉ có một thứthuốc duy nhấtđược chấp thuận bởi FDA trong việc chữa trị bệnh viêm gan D: Ðó làInterferon alphaThuốc được dùng cho cả hai trường hợp: viêm gan D mạn tính và cấp tínhViêm gan D chỉ lây qua những ai chưa có kháng thể chống lại vi khuẩn viêm gan B. Vì thế,chủng ngừa viêm gan B là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh viêm gan D. Tuy nhiên hiện naychưa có thuốc chủng ngừa bệnh viêm gan D cho những người đang bị bệnh viêm gan B.
Vì viêm gan E làbệnh truyền nhiễmnên chúng ta ai cũng có thể bị. Tương tự như bệnh viêm gan A, bệnh lây từ người này qua người kia qua thức ăn và nước uống nhiễm vi khuẩnE. Bệnh dễ lây nhất qua phânSo với bệnh viêm gan A, bệnh viêm gan E khó lây hơn Bệnh đôi khi lây qua máu và rất hiếm khi qua đường sinh lý.
Thông thườngtriệu chứngcủa bệnh viêm gan E chỉ rất nhẹ và nhất thời, kéo dài từ vài ngày đến vài tuần lễ. Bệnh không gây ra những hậu quả lâu dài, như trong trường hợp của bệnh viêm gan B, D và C.Tuy nhiên bệnh có thể trở nên ác tính và nguy hiểm, nhất là khi bệnh nhân đang mang thaiThời gian ủ bệnh kéo dài từ 15 đến 60 ngày sau khi nhiễm siêu vi khuẩn. Thông thường bệnh nhân bắt đầu bị hâm hấp sốt, mệt mỏi, đau nhức toàn thân như cảm cúm. Sau đó, da và mắt trở nên vàng, nước tiểu trở nên đậm mầu, phân có mầu nhạt như đất sét, bụng đau lâm râm, khó chịu, buồn nôn và ói mửa. Một số ít bệnh nhân bị tiêu chảy, nổi mề đay và đau khớp xương. Cũng như bệnh viêm gan A, đa số bệnh nhân không cần chữa, bệnh tự nhiên từ từ giảm dần và biến mất. Chỉ trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, gan bị tàn phá một cách rất nhanh chóng và bệnh nhân có thể chếtnếu không được ghép gan.
Thử máu là phương pháp độc nhất để định bệnh viêm gan E
Thông thường bệnh chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn, vàbệnh khôngcần chữa tự nhiên cũng hết. Các triệu chứng của bệnh có thể được chữa trị tùy theo tình trạng của mỗi bệnh nhânTuy nhiên nếu bệnh trở nên ác tính, ghép gan là phương pháp độc nhất để có thể cứu được mạng sống của bệnh nhân.Cho tới nay, người ta vẫnchưa khám phá ra thuốc chích ngừabệnhviêm gan E. Vì thế, giữ vệ sinh là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn sự bành trướng của căn bệnh đáng ngại này.
Thaythuoccuaban.com tổng hợp
|