Đông y gọi huyết áp thấp là chứng huyễn vựng (huyễn là hoa mắt, vựng là chóng mặt). Và cho rằng chứng huyễn vựng sảy ra là do khí huyết hư chiếm đa phần nguyên nhân bệnh sinh. Do huyết hư khiến sự nuôi dưỡng tại não bị thiếu hụt mà sinh ra hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn hay váng đầu làm cho sắc mặt nhợt nhạt, tay chân yếu, run, mạch vô lực...
Còn quan niệm của Tây y: theo Tổ chức Y tế Thế giới, huyết áp thấp là biểu hiện sự rối loạn chức năng của vỏ não và trung khu thần kinh vận mạch. Vì vậy khi tình trạng huyết áp thấp xảy ra là lúc chỉ số huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) dưới 90mmHg và huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) dưới 60mmHg.
Trong chứng huyết áp thấp cũng chia ra hai loại đó là huyết áp thấp tiên phát (xảy ra do thể trạng) và chứng huyết áp thấp thứ phát (do bệnh lý gây ra). Những người huyết áp thấp thường có các biểu hiện như hay mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, giảm tập trung trí lực, khi thay đổi tư thế có thể sảy ra choáng váng nặng hơn là thoáng ngất hoặc ngất...
Để cùng tham khảo và có thể áp dụng, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu những phương thuốc trị chứng huyết áp thấp từ đông dược.
Bài1: Hạt sen 30g, táo đỏ 10g, gừng tươi 6 lát. Ngày sắc 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày. Cần uống liền 5 - 7 thang.
Bài 2: Ngũ vị tử 25g, nhục quế 15g, quế chi 15g, cam thảo 15g. Tất cả sắc lấy nước uống chia làm 2 - 3 lần trong ngày. Cần sử dụng liền 3 - 7 ngày là một liệu trình. Khi theo dõi thấy huyết áp đã trở lại các chỉ số bình thường thì sử dụng tiếp một đợt từ 3 - 6 ngày nữa và ngừng uống.
Bài 3: Thục địa 12g, chích cam thảo 6g, bạch truật 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, phục linh 12g, đẳng sâm 12g, hoàng kỳ 16g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần uống trong ngày. Cần uống 5 - 7 ngày liền.
Bài 4: Nhân sâm tán bột 25g, tử hà sa tán bột 50g. Cả hai thứ trộn đều với mật ong, ngày uống mỗi lần từ 3 - 5g, uống ngày 2 lần vào các buổi sáng và trưa.
Bài 5: Đảng sâm 15g, mạch môn 9g, ngũ vị tử 5g, hoàng kỳ 15g, nhục quế từ 2 - 4g, chích cam thảo 9g, phù tiểu mạch 30g, táo tàu 5 quả. Tất cả sắc uống ngày 1 thang, chia ra 2 lần trong ngày. Cần uống từ 3 - 5 thang liền.
Bài 6: Trứng gà tươi 1 quả, gừng tươi 1 nhánh, rửa sạch gừng thái lát, cho vào nồi, thêm một cốc nước lã và đun nhỏ lửa (lửa cháy riu riu) đến khi cạn nước sắc còn lại 1/3 cốc thì đập trứng gà vào và khuấy đều, đun tiếp trong 2 phút nữa là được, bắc ra ăn nóng. Mỗi ngày cần ăn 1 lần và ăn liền trong 5 ngày, nếu theo dõi huyết áp thấy chưa trở lại chỉ số bình thường thì có thể ăn thêm vài ngày.
Đông y không có bệnh danh về huyết áp - bởi vì cách đây hàng ngàn năm chưa có máy đo huyết áp. Nhờ máy đo huyết áp thầy thuốc biết được chỉ số huyết áp. Huyết áp là áp lực của máu vào thành mạch máu. Qua tổng kết, các nhà khoa học y học qui định khi tim bóp là huyết áp tối đa (thì tâm thu) khi tim dãn (thì tâm trương) là huyết áp tối thiểu.
Đông y khám bệnh qua 4 bước (gọi là tứ chuẩn).
- Vọng là nhìn thần sắc và hình dáng người bệnh, người thấp huyết áp thường: da xanh, dáng mệt mỏi, lưỡi nhiệt liệu - môi nhợt.
- Văn là nghe ngửi: tiếng nói cơ thể nhỏ, yếu hơi thở bình thường hoặc hôi.
- Vấn là hỏi bệnh:
+ Người bệnh đổi tư thế dễ chóng mặt hoa mắt.
+ Đau lưng cổ gáy, sợ lạnh, dễ ra mồ hôi. Có thể hồi hộp, mất ngủ, có thể sa trực tràng, sa tử cung.
Những người có triệu chứng trên thường đến sau giai đoạn ốm kéo dài, hoặc tiêu chảy mất nước, hoặc nhiễm độc nôn mửa nhiều, hoặc có các bệnh đường tiêu hóa, làm cho ăn kém, chán ăn bệnh đường hô hấp như: họng viêm mũi xoang hoặc bệnh ở tim mạch, bệnh ở thận... Khi hỏi người bệnh thấy thuốc sẽ tìm được nguyên nhân.
- Thiết là sờ khi sờ da thường thấy lạnh ẩm.
Xem mạch: mạch trầm nhược, hay trầm tế.
Đông y chia chứng bệnh này làm 4 thể. Tùy triệu chứng mỗi loại bệnh mà có thuốc khác nhau
Thể tỳ khí hư: Ăn kém, đại tiện lỏng, phân thường nát.
Triệu chứng: Cơ nhẽo, chân tay lạnh, mạch trầm.
Bài thuốc: Hương sa lục quân gia giảm: cát lâm sâm 12g, thêm mạch môn 12g, hoàng kỳ 20g, phá cổ chi 12g, bạch linh 16g, nhục đậu 8g, bạch truật 16g, hoài sơn 16g, mộc hương 12g, cam thảo 6g, sa nhân 12g, nhục quế 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thể tâm tỳ khí hư: Triệu chứng: hồi hộp, ngủ mê, ăn kém, người mệt mỏi, ngại hoạt động. Đổi tư thế dễ chóng mặt, có thể sa trực tràng, tử cung, mạch trầm nhược.
Bài thuốc: Hoàng kỳ 20g, quế chi 12g, bạch truật 16g, bạch thược 12g, can khương 8g, táo nhân 12g, nhục quế 8g, bá tử nhân 12g, đương qui 12g, cam thảo 6g, đẳng sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thể tỳ thận dương hư: Triệu chứng: váng đầu, ù tai, ngủ kém. Đau mỏi lưng gối chân tay lạnh, sợ lạnh, di tinh, tiểu đêm, lưỡi nhợt, mạch trầm nhược.
Bài thuốc: Chân vũ thang: sâm tốt 12g, liên thục 20g, hà thủ ô 20g, bạch linh 6g, đại táo 16g, bạch truật 16g, bá tử nhân 8g, bạch thược 12g, kỷ tử 12g, sinh khương 3 lát, táo nhân 10g. Sắc uống ngày 1 thang
Thể khí âm lưỡng hư: Triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, họng kho khát, mạch tế sắc.
Bài thuốc: Sinh mạch tán: nhân sâm 12g, hoàng kỳ 16g, mạch môn 12g, đương qui 12g, ngũ vị 8g, kỷ tử 12g, hoàng tinh 16g, nhục quế 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Huyết áp thấp với các thể trên đều thuộc hư chứng. Khi huyết áp quá thấp, mạch nhanh nhỏ khó thấy. Huyết áp tối đa dưới 60mmHg là tình trạng trụy mạch phải cấp cứu. Phải phối hợp với tân dược, truyền máu hay truyền dịch. Đông dược có thể thêm nhân sâm, phụ tử (chế).
Phòng bệnh: Vì huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch máu. Áp lực này phụ thuộc vào 4 yếu tố:
+ Một là sức co bóp tim: Tim co bóp yếu thì huyết áp thấp.
+ Hai là khối lượng tuần hoàn - bình thường mỗi người trưởng thành có từ 4 đến 5 lít máu. Nếu khối lượng này dưới 4 lít huyết áp sẽ thấp.
+ Ba là độ quánh hay độ nhớt của máu: đó là các thành phần có trong máu: đạm, đường, mỡ, muối, khoáng, vitamin, tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), nội tiết tố... Các chất này giảm, làm huyết áp giảm đặc biệt là khi dòng máu thiếu đạm, đường, mỡ, thiếu tế bào máu.
+ Yếu tố thứ tư là sức cản ngoại vi là chỉ sự đàn hồi của thành mạch. Do vậy phòng huyết áp thấp là tập thể dục cho tim co bóp đều. Ăn uống đủ lượng nước và chất ăn hàng ngày - Uống không đủ nước khối lượng tuần hoàn sẽ thấp - các nghề gây ra mồ hôi nhiều haybệnh gây nôn mửa, tiêu chảycó thể phải uống nhiều nước hơn người thường.Chú ý ăn các loại hoa quả có nhiều nước.
(theo suckhoedoisong)
|