Chế độ ăn uống phòng và chữa bệnh
Củng mạc được cấu tạo từ nhiều lớp băng xơ dày đan chéo nhau rất vũng chắc và là lớp ngoài có tác dụng bảo vệ của mắt, cũng là phần màu trắng của mắt. Củng mạc chiếm 4/5 sau nhãn cầu.
Viêm củng mạc là một tình trạng viêm nặng đặc trưng bởi phù và thâm nhiễm tế bào viêm của củng mạc dẫn đến tình trạng củng mạc đỏ và gây đau đớn khó chịu cho người bệnh. Viêm củng mặc gây đau nhức, khó chịu cho bệnh nhân, viêm củng mặc dù tiến triển chậm nhưng nếu không được phát hiện điều trị kịp thời có thể gây mù cho người bệnh. Bệnh thường gặp ở phụ nữ tuổi trung niên (độ tuổi từ 40-55 tuổi).
Viêm củng mạc có hai loại:
Viêm củng mạc trước (chiếm hơn 90%): đây là tình trạng viêm mặt trước của củng mạc và là tình trạng viêm phổ biến nhất. Viêm củng mạc trước lại có thể chia ra theo biểu hiện lâm sàng thành viêm không hoại tử là viêm dạng nốt và viêm có hoại tử là hình thái viêm toả lan.
Viêm củng mạc sau: là mặt sau của củng mạc. Tình trạng này ít phổ biến hơn nhưng có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về mắt như bệnh võng mạc hoặc tăng nhãn áp.
Viêm củng mạc có thể do nhiễm trùng mắt, chấn thương mắt, nấm hoặc ký sinh trùng.
Viêm củng mạc thường gặp ở những người có bệnh tự miễn như: Bệnh viêm khớp dạng thấp, Bệnh Lupus ban đỏ, Hội chứng Sjogren, Xơ cứng bì, Bệnh u hạt Wegener, Bệnh viêm ruột
Một số trường hợp bệnh nhân viêm củng mạc không rõ nguyên nhân.
Triệu chứng chủ yếu của viêm củng mạc là đau nhức, đau nhiều, sâu và cơn đau do viêm củng mạc gây ra ít đáp ứng với các loại thuốc giảm đau. Đau thường lan ra vùng trán, gò má và xoang. Đau âm ỉ và có những cơn kịch phát khi chạm vào vùng thái dương hoặc mắt khiến cho bênh nhân không thể nằm nghiêng về bên đau.
Cơn đau có thể tăng lên về đêm khiến bệnh nhân mất ngủ và lo lắng. Đau có thể do phá huỷ dây thần kinh cảm thụ trong củng mạc do phù, chất trung gian gây viêm hoặc hoại tử.
Viêm củng mạc còn kèm thêm triệu chứng đỏ mắt, màu đỏ có sắc hơi xanh, có thể khu trú ở một vùng thông thường nhất ở vùng khe mi hoặc trên toàn bộ củng mạc. Sau mỗi đợt viêm tái phát, củng mạc lại trở lên trong hơn do sắp xếp lại các sợi collagen sau phù.
Ngoài ra bệnh nhân bị viêm củng mạc còn có một số triệu chứng khác như chảy nước mắt thường nhẹ và không kèm theo ra dử mắt, sợ ánh sáng.
Trường hợp viêm củng mạc nặng có thể gây ra co thắt cơ vòng mống mắt dẫn đến co đồng tử và cận thị thoáng qua.
Viêm củng mảng nếu không được chữa trị sẽ dẫn đến những biến chứng tại giác mạc như mỏng giác mạc chu biên, viêm giác mạc, loét giác mạc chu biên, thủng giác mạc,…
Viêm củng mạc có thể lan sang gây ra viêm màng bồ đào. Đa số các trường hợp viêm màng bồ đào trước ở mức độ khác nhau xảy ra trong giai đoạn muộn của viêm củng mạc.
Glocom: Có thể gặp glocom góc đóng, góc mở hoặc glocom tân mạch do những cơ chế khác nhau. Biến chứng viêm màng bồ đào và glocom trong viêm củng mạc là những chỉ định chính của bỏ nhãn cầu do viêm củng mạc.
Chẩn đoán viêm viêm củng mạc dựa trên lâm sàng thông qua khám sinh hiển vi. Ngoài ra làm phiến đồ hoặc sinh thiết hiếm khi được chỉ định để chẩn đoán xác định viêm củng mạc nhiễm trùng.
Một số trường hợp nếu nghi ngờ viêm củng mạc sau bác sĩ có thể chỉ định chụp CT hoặc siêu âm.
Điều trị nội khoa: Bệnh nhân viêm củng mạc không hoại tử thường chỉ dùng thuốc chống viêm non steroid tại chỗ hoặc toàn thân.
Viêm củng mạc có hoại tử kèm viêm tấy và viêm củng mạc phía sau thường sử dụng corticoid toàn thân hạn chế đau nhức. Nếu với corticoid không có hiệu quả có thể phải chuyển sang dùng ức chế miễn dịch mạnh hơn.
Các bệnh nhân có những bệnh phối hợp như cơ địa dị ứng atopy, trứng cá đỏ, gout hoặc phối hợp với bệnh toàn thân của hệ thống liên kết hoặc bệnh mạch máu thường cần trị liệu đặc hiệu sẽ được bàn riêng cho từng bệnh.
Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật chỉ được chỉ định duy nhất trong trường hợp viêm củng mạc hoại tử tiến triển tới dọa thủng hoặc thủng nhãn cầu. Điểm mấu chốt của điều trị phẫu thuật không phải là kỹ thuật phẫu thuật mà là khâu điều trị kiểm soát quá trình viêm trước phẫu thuật. Vật liệu thay thế củng mạc cũng có thể là củng mạc từ mắt khác, màng xương, cân cơ,…Phẫu thuật gồm tách kết mạc rộng, cắt bỏ các phần hoại tử của giác mạc, củng mạc. Mảnh ghép được cố định bởi 9/10 hoặc 10/10 sau đó được phủ kết mạc lên. Sau mổ cần tránh dùng cortioid tra để tạo điều kiện cho tân mạch và tế bào phát triển vào mảnh ghép.
Theo Trung Quốc danh phương toàn tâp dùng bài: " Phức phương đan sâm phiến" ( Thượng hải trung thành dược lâm sàng thực dụng thủ sách.)
| Phức phương đan sâm phiến | Đan sâm | Tam thất | Băng phiến | ||||
Các vị trên làm viên nén mỗi ngày uống 3 viên. Mỗi ngày 3 lần
Công hiệu. hoạt huyết khứ ứ, khai khiếu chỉ thống.
******************
|