108. Nghề uốn tóc có nguy hiểm không?

"Cháu làm nghề uốn tóc được 5 năm nay. Cháu nghe nói việc ăn huyết ḅ giúp thải được bụi tóc ra ngoài theo đường phân, có đúng vậy không? Nếu hay hít mùi thuốc uốn tóc th́ có bị nhiễm hóa chất không?".

Nếu không phải là hàng giả th́ thuốc uốn tóc không gây hại cho cả thợ uốn tóc và khách hàng, v́ các sản phẩm này đă được kiểm tra chặt chẽ trước khi tung ra thị trường. Thuốc nhuộm tóc cũng vậy, hàng giả gây rụng tóc dần, c̣n hàng thật th́ không.

Khi cắt tỉa tóc, tuyệt đối cháu phải đeo khẩu trang để tránh hít phải tóc vụn và những chất bẩn từ đầu người khác. C̣n chuyện huyết ḅ th́ cháu hăy quên đi, v́ làm sao mà tóc đang nằm ở đường hô hấp lại chui vào ruột được.

Cháu cứ yên tâm làm ăn, nhớ đừng bao giờ dùng chung khăn cho khách để tránh lây bệnh từ người nọ sang người kia.

109. Bao dương vật có từ bao giờ

Thời tiền sử, để dương vật khỏi bị gai đâm hoặc côn trùng cắn, đàn ông bảo vệ nó bằng cách lấy các mảnh vỏ cây dài quấn lại, hoặc dùng một cái vỏ cứng úp lên, hay đút nó vào một vật h́nh trụ (tập quán này hiện vẫn tồn tại ở một số bộ tộc ít người).

Từ thời xưa, đàn ông đă biết pḥng lây bệnh hoa liễu bằng cách dùng các dụng cụ bảo vệ với những tên gọi khác nhau tùy theo địa phương. Ở Paris (Pháp), người ta gọi nó là "áo đuôi tôm Anh Quốc". Đối lại, người London (Anh) gọi nó là "màng ruột già Pháp". Người châu Phi đặt tên cho nó là "mũ đi rừng"; người Brazin gọi nó là "áo sơ mi nhí"...

Suốt ba ngh́n năm nay, người ta đă dùng bàng quang lợn, ruột cừu, ruột thỏ, bong bóng cá (đặc biệt của cá tầm và cá heo)... làm bao dương vật để tránh lây "các bệnh của thần Vệ Nữ".

Từ thế kỷ 10, người Nhật Bản đă sản xuất được những dụng cụ bảo vệ cơ quan sinh dục nam giới bằng da thuộc hoặc vảy rùa.

Năm 1564, trong cuốn sách nhan đề De morbo gallico, chuyên gia t́nh dục học nổi tiếng Gabriel de Fallope đă gợi ư nên dùng một dụng cụ h́nh mũ chụp có phết một thứ nước lá cây sắc đặc, đặt lên bộ phận sinh dục nam ngay sau khi giao hợp để tránh mắc bệnh.

Măi tới thế kỷ 17, người ta mới dùng bao dương vật vào việc tránh thai. Vua Charles của Anh và vua Louis của Pháp là những người đầu tiên sử dụng nó với mục đích này. Từ đó, bao dương vật được phổ biến nhanh chóng. Trong thời gian này, nó mang một cái tên mỹ miều là "găng tay của quư bà", được chế tạo bằng ruột hay bàng quang súc vật, đôi khi lót bằng lụa hoặc nhung (người Trung Quốc thường dùng lụa mỏng thấm dầu). Trong khi giao hợp, nam giới luôn phải giữ chặt trong tay một dải băng được dính vào dụng cụ. Mất thoải mái đă đành, dụng cụ này lại không thật đảm bảo, đến nỗi nữ văn sĩ Pháp Mme de Sévigné phải thốt lên: "Đó là tấm áo giáp chống lạc thú và là mảnh mạng nhện chống hiểm nguy".

Vào những năm 70 của thế kỷ 20, triết gia Pháp Condorcet và nhà kinh tế học Anh Malthus đă rất nhiệt thành bảo vệ chủ trương dùng bao dương vật để hạn chế sinh đẻ. Từ đó, dụng cụ này trở nên thực sự phổ biến.

Bao dương vật cũng có những bước thăng trầm, được cải tiến dần về h́nh dạng và chất liệu, nhất là từ khi có kỹ thuật lưu hóa cao su. Hiện đă có những loại cực mỏng và bền chắc, bảo hành 5 năm. Tuy nhiên, người ta c̣n muốn yên trí và tiết kiệm hơn nên đă tạo ra một thiết bị nhỏ mang tên Vérifior kèm theo bao cao su để "kiểm tra, hong khô và quấn lại", nhằm sử dụng được nhiều lần.

110. Thụ tinh nhân tạo và thụ thai trong ống nhiệm

"Bạn em nói thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm là 2 kỹ thuật khác nhau, c̣n em th́ cho rằng đó chỉ là 2 tên gọi của một kỹ thuật. Xin bác sĩ làm trọng tài giùm".

Em th́ chắc chắn sai rồi, c̣n bạn em cũng không đúng nốt, bởi v́ trong đầu bạn có thể nghĩ đúng nhưng lại lẫn lộn về thuật ngữ. Đă gọi là nhà khoa học th́ không nên dùng sai thuật ngữ khoa học, bởi lẽ thiên hạ sẽ hiểu nhầm điều ḿnh định giải thích, nguyên nhân do dịch sai thuật ngữ của nước ngoài.

Thụ tinh nhân tạo (inséminatinon artificielle) là bơm tinh dịch vào âm đạo đúng giữa ngày rụng trứng, với hy vọng tinh trùng có thể gặp được noăn tại ống dẫn trứng và thụ thai; trứng được thụ tinh sẽ đi xuống tử cung để làm tổ và phát triển ở đó. Như vậy có nghĩa là tuy tiến hành thụ tinh nhưng chưa chắc đă thụ thai. Tinh dịch có thể tươi (lấy xong đem bơm ngay) hoặc đông lạnh, có thể là của người khác (v́ của người chồng yếu hoặc không có) hay của chính người chồng (vẫn tốt, nhưng v́ độ axit âm đạo người vợ qúa cao, làm chết tinh trùng, phải bơm "nhân tạo" mới thoát hiểm được).

Thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro) là lấy noăn cho tiếp xúc với tinh trùng để thụ thai thành trứng; phôi được giữ trong ống nghiệm chừng 2-3 hôm, khi phát triển thành 4 tế bào th́ được đem cấy vào tử cung (của người mang thai hộ hoặc mẹ ruột). Có thể tiến hành tạo cùng lúc với nhiều phôi để có 2-3 con, thậm chí đông lạnh phôi để dùng dần.

111. Lợi ích và nhược điểm của nhân bản vô tính

"Kỹ thuật nhân bản vô tính trên động vật mang lại lợi ích thiết thực ǵ? Nếu nhân bản người th́ điều ǵ sẽ xảy ra?".

Kỹ thuật nhân bản vô tính (NBVT) được hiểu một cách khái qúat là: Lấy 1 tế bào thông thường trên cơ thể của con đực hay con cái, rút nhân. Lấy 1 noăn của con vật khác cùng loài, bỏ hết nhân rồi cho nhân kia vào; khi nó phát triển thành phôi 4 tế bào th́ đem cấy vào dạ con. Như vậy, vật liệu di truyền của cá thể mới sẽ chỉ có nguồn gốc từ một người, bố hoặc của mẹ; cái noăn này chỉ "nuôi giùm" mà thôi.

Trên động vật, NBVT mở ra triển vọng phục hồi một số giống loài đă tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng; đem lại tính đa dạng cho quần thể động vật trên hành tinh, qua đó nghiên cứu sâu hơn các quy luật tiến hóa. Kỹ thuật NBVT động vật gặp một trở ngại lớn chưa khắc phục được: Các con vật được nhân bản đều chết sớm sau khi chào đời.

Trên con người, việc NBVT các phủ tạng sẽ tạo thuận lợi cho việc thay thế các cơ quan hư hỏng trong cơ thể mà không phải sử dụng thêm thuốc chống thải loại như hiện nay (v́ là "của chính ḿnh" nên được dung nạp dễ dàng). Qua đó, có thể tiến hành thử nghiệm các phương thức điều trị và ngăn ngừa bệnh tật, khắc phục các khuyết tật.

Và dường như nhân loại buộc phải dừng lại ở đó. Bởi lẽ:

- Những cá thể sinh ra do NBVT là bản sao nguyên xi của bố hoặc mẹ, không có cá tính riêng; không tiến hóa, mà đă không tiến hóa th́ phải chịu đào thải theo quy luật.

- Người con thu được bằng NBVT chỉ sống được phần c̣n lại của cuộc đời bố hay đời mẹ ḿnh, như đă nói ở trên.

- Việc NBVT trên người bị các nhà đạo đức học và các tổ chức tôn giáo phản đối quyết liệt.

112. Hươu cao cổ và cơ quan NASA

"Chúng em nghe nói người Mỹ đang nghiên cứu hươu cao cổ để chuẩn bị đưa nó lên vũ trụ, có đúng không?".

Chắc các em nghe nhầm. Trong điều kiện hiện tại, việc đưa các sinh vật bậc thấp (tảo, vi khuẩn, côn trùng...) vào vũ trụ để nghiên cứu cũng phải tính toán cẩn thận, nói ǵ đến chuyện đưa những động vật bậc cao cùng đi với con người. Hươu cao cổ mới lọt ḷng đă có chiều cao 2 m, cân nặng trung b́nh 60 kg, cồng kềnh hơn cả nhà du hành.

Tuy nhiên, chuyện nghiên cứu hươu cao cổ nhằm phục vụ cho công cuộc chinh phục vũ trụ ở Mỹ lại là điều có thật. Từ năm 1985, các nhà khoa học tại Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đă chú ư đến những đặc tính quư báu của hươu cao cổ: Chúng cao từ 5 đến 6 m, có áp lực cột máu rất lớn; quả tim cực khỏe, nặng tới 11 kg, mỗi phút bơm được ít nhất 60 lít máu. Hệ cơ ṿng dọc theo động mạch cổ của con vật cho phép nó đưa máu lên tận cái đầu ở tít trên cao. Tĩnh mạch của hươu cao cổ có những van đặc biệt giúp cho áp lực máu không thay đổi quá đột ngột mỗi khi con vật cúi đầu, v́ những thay đổi này nếu xảy ra sẽ làm nó ngất xỉu. Chân của hươu cao cổ, nơi áp lực máu rất lớn, có một hệ thống mao mạch rất chắc giúp tránh được hiện tượng phù thũng.

Đó là những đặc tính mà các nhà du hành vũ trụ ước ao có được, bởi lẽ họ phải chịu đựng hiện tượng gia tốc trọng trường khi xuất phát và t́nh trạng vô trọng lực khi sống trên quỹ đạo.

Các nhà khoa học của NASA đă cho bắt 8 hươu cao cổ để nghiên cứu. Hai con được phẫu tích để xem xét cấu trúc cơ thể, đặc biệt là bộ máy tuần hoàn. Sáu con được cài đặt các ống thông vào mạch máu và đeo một máy phát tín hiệu ở cổ rồi được thả ra để theo dơi. Kết quả thu được đă giúp họ cải tiến bộ quần áo bảo vệ cho các nhà du hành vũ trụ.

113. Bệnh thấp tim

"Bệnh thấp tim nên chữa bằng Đông y hay Tây y, sau khi chữa khỏi có bị di chứng ǵ không?".

Hiện nay, Tây y đă có thuốc hữu hiệu chữa bệnh thấp khớp và ngăn ngừa thấp khớp tái phát. Người bệnh cần nghiêm túc thực hiện phác đồ điều trị và trở lại tái khám đúng hẹn. Bên cạnh đó, nếu có những bài thuốc gia truyền đă qua ứng dụng nhiều đời, không gây nguy hiểm th́ dùng phối hợp thêm cũng tốt.

Người bệnh thấp khớp dù đă được chữa trị vẫn phải luôn cảnh giác với nguy cơ tái phát. Nên nhớ rằng bệnh càng tái phát nhiều lần, nguy cơ đối với tim càng cao.