Bệnh sôi bụng trong đông y gọi là phúc minh, tràng minh. Bệnh này thuộc công năng của tỳ, vị, tràng vị. Nói cách khác là tỳ vị, đại tràng có liện hệ trực tiếp đến tràng minh, phúc minh. Đồng thời thuỷ và khí (nước và hơi) la hai hiện tượng chủ yếu của bệnh này.
Phúc minh là sôi ở vùng trung tiêu, hoặc thượng tiêu, không cố định, sôi và chuyển động kêu thành tiếng, người bên cạnh cũng nghe rõ, loại này phần nhiều thuộc tỳ vị. Tràng minh là sôi ở vùng hạ tiêu, cũng di chuyển và sôi thành tiếng và người bên cạnh cũng nghe thấy được; loại này thuộc tràng vị.
Trong thiên ngũ tạng bình thành đại luận sách Tố Vấn nói: “Vị chủ thu nạp, tỳ chủ vận hoá, đại tràng, bàng quang chủ truyền tông; chính thường tắc vô bệnh, trái thường tắc sinh bệnh”. Nghĩa là: Vị chủ về thu nạp thức ăn uống; tỳ chủ vận hoá thức ăn uống; đại tràng và bàng quang đưa phân và nước tiểu ra ngoài; nếu hoạt động bình thường là vô bệnh, trái thường là sinh bệnh.
Thiên tỳ vị luận, sách Cảnh nhạc toàn thư nói: “Tỳ vị bất hoà thì ăn uống không tiêu, sẽ sinh các bệnh như: Đau bụng, đầy bụng, sôi bụng, nôn mửa, tiết tả...”
Trên đây là đề cập đến phạm vi rộng của chức năng tỳ vị, đại tràng, bàng quang trong hệ tiêu hoá và bài tiết. Từ ý nghĩ trên ta thấy sôi bụng có quan hệ trực tiếp đến tỳ, tràng, vị và ăn uống.
Bệnh này có mấy nguyên nhân chính như sau:
- Do tỳ hư vị yếu.
- Do tỳ vị hư hàn.
- Do hàn thấp hoặc thấp nhiệt uất trệ.
- Do ăn uống không điều độ hoặc ăn uống nhiều các thức ăn sống lạnh.
Triệu chứng: ở vùng trung thượng tiêu tiếng sôi nhỏ nhẹ và kéo dài.
Phương pháp điều trị là kiện tỳ, dưỡng vị kiêm bành khí, hạ khí.
Bài thuốc:
- Phòng sâm (sao gừng) : 15g
- Mộc hương (mài ngoài) : 5g
- Trầm hương : 5g
- Sa nhân : 10g
- Chỉ xác (sao cám) : 10g
- Bạch truật (sao) : 10g
- Ý dĩ (sao) : 5g
- Hoài sơn (sao) : 5g
- Ô dược : 10g
Triệu chứng: Tiếng sôi ào ào từng cơn ở trung thượng tiêu thường đầy bụng và hay ợ hơi.
Phương pháp điều trị: là ôn trung, kiện tỳ dưỡng vị kiêm tiêu thực, hành khí, giáng khí.
Bài thuốc:
- Phòng sâm (sao gừng) : 15g
- Bạch truật (sao) : 15g
- Bào khương : 5g
- Chích cam thảo : 5g
- Cao lương khương (riềng): 15g
- Ngô thù : 5g
- Sa nhân : 10g
- Mộc hương (mài ngoài) : 5g
Triệu chứng: Sôi réo mạnh nghe rõ, cơn sôi ngắn, hay ợ hơi, ợ chua. Loại này ở trung tiêu.
Phương pháp điều trị là kiện tỳ, thanh nhiệt, lợi thấp kiêm hành khí, hoá khí.
Bài thuốc:
- Chi tử (sao cháy) : 10g
- Hoàng liên (sao) : 5g
- Hậu phác : 10g
- Chỉ xác (sao cám) : 10g
- Ý dĩ (sao) : 15g
- Trạch tả (sao muối) : 15g
- Ô dược : 10g
- Trầm hương : 5g
- Gừng tươi : 3 lát
d) Do hàn thấp ứ trệ, trở ngại vận hoá gây nên:
Triệu chứng: Tiếng sôi êm nhẹ bất thường, bệnh dai dẳng, đại tiện có khi đi lỏng,loại này phần nhiều ở trung hạ tiêu. Phương pháp điều trị là ôn trung tán hàn kiêm kiện tỳ hành khí đạo trệ.
Bài thuốc:
- Nhục quế : 5g
- Bào khương : 5g
- Bạch truật (sao) : 10g
- Trầm hương : 5g
- Thổ linh : 10g
- Ý dĩ (sao) : 15g
- Ngô thù : 5g
- Mộc hương : 5g
đ) Do ăn uống không điều độ hoặc ăn uống nhiều thứ sống lạnh làm cho tỳ vị bị hàn xâm nhập hoặc hàn khí lưu trú ở hạ tiêu gây nên.
Triệu chứng: Bệnh mắc sau khi ăn nhiều các thứ sống lạnh, bụng sôi mạnh, đại tiện có lỏng, cũng có trường hợp đau bụng.
Phương pháp điều trị là kiện tỳ tiêu thực, ôn trung khử hàn.
Bài thuốc:
- Chỉ thực (sao) : 10g
- Hậu phác : 10g
- Bạch truật (sao) : 15g
- Mộc hương (mài ngoài) : 5g
- Sa nhân : 10g
- Can khương : 5g
- Nhục quế : 5g
- Ngô thù: 3g
Có trường hợp phụ nữ sau khi sinh do ăn uống các thứ mát lạnh, khiến hàn khí xâm nhập tràng vị, lưu trú tại hạ tiêu gây nên, lâu ngày không khỏi, hoặc sau khi sinh, thận dương hư làm cho hạ nguyên hư lạnh gây nên sôi bụng, người gầy róc, nhân dân thường gọi là sản róc.
Cũng có trường hợp không do các nguyên nhân kể trên gây ra mà do mạnh môn hoả hư, hạ nguyên hư lạnh.
Hai loại này tuy ít gây tai biến và trở ngại nhiều đến ăn uống tiêu hoá, nhưng lại dai dẳng lâu ngày.
Theo lý luận của y học cổ truyền thì hoả được giữ trong nước và đất (hoả tàng ư thổ thuỷ chi trung). Tỳ thuộc thổ, thận thuộc thuỷ là nơi giữ hoả khí của mạnh môn hoả. Vì mạnh môn hoả suy nên không làm ấm được tỳ thận và tâm tiêu.
Cách chữa cả hai loại đều phải bổ mạnh môn trướng hoả để ôn tỳ thổ, tỳ thổ được ôn sẽ làm cho tràng vị ấm, đông thời bổ mạnh môn hoả cũng làm cho hạ tiêu ấm, hư hàn sẽ hết, sôi bụng sẽ khỏi. Đó là phương pháp chữa từ gốc của 2 loại trên, đồng thời kiêm kiện tỳ dưỡng vị, hành khí, giáng khí để giúp công năng vận hoá, làm cơ sở vững chắc trong điều trị. Cổ phương dùng bài: Bát vị địa hoàng hoàn gia Ô dược, trầm hương hoặc bài Quy tỳ thang.
Bài Bát vị địa hoàng gia giảm:
- Hoài sơn : 8g
- Sơn thù : 8g
- Trạch tả : 4g
- Thục địa (sao thơm): 16g
- Ô dược 8g
- Đơn bì : 4g
- Phục linh :6g
- Nhục quế : 4g
- Phụ tử (chế) : 4g
- Trầm hương : 8g
Thuốc hiện nay nếu thiếu thì thay những vị tương ứng cho phù hợp.
Theo kinh nghiệm dân gian chữa bệnh sản hậu sôi bụng thì dùng:
- Cây trứng ếch sao vàng hạ thổ sắc uống.
- Cây chó đẻ sao vàng hạ thổ sắc uống.
Tóm lại, bệnh tràng minh, phúc minh là loại bệnh thuộc về ăn uống và tiêu hoá, thuộc khí và thuỷ, có quan hệ trực tiếp đến tỳ vị, tràng vị và mạnh môn hoả. Là loại không thuộc bệnh nặng, bệnh cấp, ít diễn biến phức tạp nhưng điều trị cũng không phải là dễ dàng, cần nắm vững nguyên nhân, phân biệt triệu chứng trên lâm sàng mà xem xét, phân tích quy nạp để có phương pháp điều trị có kết quả.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|