Trị bệnh về huyết chia ra ba loại lớn. Bổ, hành và chỉ huyết - Huyết hư tắc bổ, Huyết trệ tắc hành, Huyết xuất tắc chi.
Tâm chủ huyết, Can tàng huyết, Bổ huyết lấy tâm can làm chủ.
Tâm là con của can mà can lại là con của thận. Vì vậy mà bổ tâm thường kiêm bổ can, bổ can vừa kiêm từ bổ thận âm. Bởi vì hư tắc bổ kỳ, mẫu (con hư phải bổ mẹ).
Khí là dương, huyết là âm, căn cứ vào lý luận dương sinh, âm trương nên chứng huyết hư nhiều, trong phương bổ huyết thường dùng thêm thuốc bổ khí, thuốc bổ huyết.
Người tỳ vị hư yếu thường dẫn đến ăn uống kém, đại tiện không tốt cho nên trong khi bổ huyết thường dùng thêm các thuốc kiện tì, hòa trung để đề phòng ảnh hưởng đến tiêu hóa.
Thuốc bổ huyết thường có tính cay, ấm, trường hợp huyết hư gây nội nhiệt hoặc có các chứng can dương vượng thì phải kiêng kỵ.

Triệu chứng: Người gầy, hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt không sáng sủa, người mệt mỏi.
Thuốc thường dùng: Đương qui, bạch thược, a giao, thủ ô, đồng sa uyển thỏ ty tử, long nhãn.
Bài thuốc dưỡng huyết thường dùng là bài Tứ vật gồm có: thục, thược, khung qui. Người xưa chỉ rõ khí hậu bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông khác nhau nên việc gia giảm theo mùa là một việc cần thiết.
Khi gia giảm có thể thay đổi về tính chất của bài thuốc. Ví dụ như đơn dụng hoặc dùng nhiều thục, thược để tư âm. Dùng riêng khung, qui hoặc dùng nhiều hơn về hoạt huyết. Nói chung để có tác dụng dưỡng huyết thì dùng thục địa, đương qui nhiều hơn; bạch thược, xuyên khung ít hơn. Khi không dùng thục địa, dùng bạch thược ít khi phải tăng lượng qui lên. Đó là phương pháp dùng bài Tứ vật thang bình bổ huyết hư. Nhưng nói chung trong phương bổ huyết, thường dùng qui, thược làm chủ, kết hợp với thủ ô, a giao, đồng sa uyển...
Trên cơ sở bài Tứ vật gia mẫu lệ, cúc hoa, câu đằng, thiên ma để thanh trấn, gọi là dưỡng huyết
tiềm dương pháp, trị huyết hư, can dương thượng xung, đầu váng, mắt hoa, đau hai bên thái dương nhiều thì gia sinh địa, qui bản, gọi là phép “dưỡng huyết tức phong”.
Trên cơ sở bài Tứ vật gia mạch môn. Hồng táo, táo nhân, phục thần, bổ tâm an thần gọi là “phép dưỡng huyết an thần” thường dùng với tâm huyết bất túc, thần bất an, hay bị hồi hộp, mất ngủ.
Trên cơ sở bài tứ vật. Thăng thục địa, gia sơn thù, câu kỷ tử... gọi là “phép tư thận dưỡng can” cùng là một phép dưỡng huyết.
Khi dùng phương pháp điều trị này (có khi can hư mà thận âm cũng bất túc, có khi thận không hư nhưng vì can hư lâu ngày không dược khí của mẹ giúp đỡ) thì phải lấy dưỡng can làm chủ, tư thận là phụ.
Triệu chứng: Huyết hư nghiêm trọng và những chứng hậu huyết hư gây nên khí hư.
Thuốc thường dùng: Hoàng kỳ, đương qui, bạch thược, đảng sâm, thục địa, a giao.
Bổ huyết ích khí, bởi vì huyết là vật hữu hình khí vô hình, cũng có ý nghĩ dưỡng sinh, âm trưởng. Mục đích để bô huyết khác với song bổ khí huyết. Ví dụ như bài đương qui bổ huyết thang của Lý Đông Viên dùng hoàng kỳ và đương qui để bổ huyết. Phép song bổ khí huyết như bài bát trân thang trong đó tứ quân tử thang để bổ khí, tứ vật thang để bổ huyết, ích khí để bổ huyết có phương pháp khác.
Khi chữa bệnh cần phải căn cứ vào chứng hậu, mục tiêu phải rõ ràng dùng thuốc mới chính xác. Trong phương bổ huyết nếu tùy tiện gia thêm thuốc bổ khí, điều đó không phù hợp với nguyên tắc điều trị.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|