Bài thuốc chữa bệnh - Banner
HOME MENU Bài thuốc chữa bệnh - Tìm kiếm

PHÉP TRỊ BỆNH ĐÀM, PHÉP HÓA ĐÀM

Phương pháp trị bệnh bằng về đàm chia ra ba loại: hoá, tiêu, điều đàm. Bệnh nhẹ dùng hoá, bệnh nặng dùng tiêu, đàm ở một chỗ không ra phải dùng điều.

A. HOÁ ĐÀM

Đàm thường có trong bệnh ho hen, muốn hoá đàm phải lấy phế làm chủ. Đàm là do tỳ vị hư nhược và thấp trọc đình tụ sinh ra, khi điều trị hoá đàm vừa đồng thời hoà vị và kiện tỳ kết hợp.

Có nhiều loại đàm: phong đàm, hàn đàm, nhiệt đàm, thấp đàm nguyên nhân do ngoại tà gây nên cũng có khi do nội nhân. Vì vậy khi điều trị phân ra mấy cách: tuyên hoá, thanh hoá, ôn hoá, hoá đàm thường dùng thuốc khai phế có tác dụng sơ tán ngoại tà vừa có tác dụng trừ đàm. Nếu thấy đàm trị đàm không phân biệt hàn nhiệt như vậy thì quá đơn giản. Vấn đề là hoá đàm bao hàm cả trục đàm và tiêu trừ đàm. Đồng thời phải chú ý nguyên nhân gây nên đàm và bản chất của đàm.

Người xưa nói: "Thấy đàm chưa vội chữa đàm" là ý nghĩa như vậy.

1. Phép tuyên phế hoá đàm:

Bài thuốc hóa đàm

Triệu chứng: ngoại cảm phong hàn, họng ngứa, ho hen, đàm nhiều màu trắng.

Thuốc thường dùng: Ngưu bàng, tiền hồ, cát cánh, hạnh nhân, bối mẫu, bán hạ, quất hồng, thuyền y.

Ngoại cảm gây ho hen phải trừ ngoại tà là chính. Phải tuyên phế tán tà. Kết hợp hoá đàm gọi là tuyên phế hoá đàm pháp. Chứng ngoại cảm thường dùng các thuốc hoá đàm chỉ khái, về phương diện khử tà tán phong dùng phòng phong, kinh giới tán hàn dùng tử tô, ma hoàng. Nếu ngoại cảm khái thấu không trầm trọng có thể dùng phương thuốc đơn giản như Tam ảo thang (ma hoàng, hạnh nhân cam thảo) khai phế khí vừa có khả năng thận khí, cho nên người ta thường nói "khinh năng khứ thực"hiệu quả rất tốt. Cần phân biệt phong hàn, phong nhiệt để dùng những phương tế thích ứng gia giảm, tựu trung là dùng phép tân ôn hay tân lương.

2. Phép thanh hoá nhiệt đàm:

Triệu chứng: Phế có đàm nhiệt, ho có đàm dính, miệng khô, họng khát.

Thuốc thường dùng: tang diệp, thuyền y, bối mẫu, đảm tinh, quất bì, tỳ bà diệp, qua lâu bì.

Những vị thuốc thanh hoá đàm nhiệt vừa có tính chất nguyên tán, bởi vì với chứng đàm nhiệt phần nhiều do phong ôn, phong nhiệt gây nên. Phép điều trị ban đầu không tách rời phạm vi thanh tuyến phế, nếu có sốt cao ho nhiều, đau tức ngực phải kết hợp vói tả bạch tán (tang bì, địa cốt bì, cam thảo, ngạch mễ) gia hoàng cầm, tri mẫu và thạch cao để thanh phế, tả phế. Tất nhiên khi chỉ có đàm nhiệt tại phế thì chỉ nên thanh phế hoá đàm, dùng bách hợp, hải cáp sắc, mã đầu linh, thiên trúc hoàng, trúc diệp cũng có thể thu được kết quả.

Ta cũng nên hiểu về phép trị táo đàm: lục khí đều có thể gây táo thuộc ngoại tà, thường gặp ở thời kỳ hạ mạt thu sơ gọi là thu táo, mặt khác nói chung nhiệt chứng thường làm hao tổn tân dịch, cũng có thể xuất hiện, hiện tượng khô táo, cho nên nói táo là phần dư thừa của hoả. Người xưa căn cứ vào đó mà có phép điều trị khác nhau, vì thế táo vói hoả có tính chất giống nhau nên khi điều trị táo đàm cũng có thể căn cứ tình trạng cụ thể mà gia giảm.

3. Phép hoá đàm táo thấp:

Triệu chứng: Khái khấu, chứng đàm trọc.

Thuốc thường dùng: Chế thương truật, hậu phác, bán hạ, Trần bì, Phục linh, dĩ nhân.

Táo thấp dùng bình vị tán, hoá đàm dùng nhị

trần thang, đó là những phương thông dụng. Kết hợp hai phương thông dụng lại gọi là bình trần thang để hoá đàm táo thấp. Thuốc hoá đàm thiên về phế, cũng nên trọng ở tỳ vị bởi vì căn nguyên của đàm thấp do tỳ vị vận hoá bất cập. Tính của thấp hay ngưng trệ, khí năng hành thấp, hoá đàm thấp không thể tách rời lý khí như hậu phác, Trần bì, hoá đàm táo thấp đều có tác dụng hành khí.

Nhị trân thang là bài thuốc hoá đàm thông dụng. Trong đó bán hạ hoá đàm, phối hợp với Phục linh, trừ thấp, Trần bì lợi khí, cam thảo hoà trung, khí thuận thấp trừ, đàm trọc tự mất. Thấp nặng cố nhiên phải phối hợp với bình vị tán, nhiệt nhiều phải phối hợp thanh nhiệt, như dùng bài thanh khí hoá đàm hoàn, dùng bán hạ, Phục linh, quất hồng, gia đởm tinh để giúp bán hạ hoá đàm, chỉ thực, hạnh nhân, để giúp quất hồng bình khí gia hoàng cầm, qua lâu thanh nhiệt, ôn đởm thang, tức bài nhị trầm gia trúc như, chỉ thực, tuy nhiên gọi là ôn đởm nhưng thực tế là hoá đàm hoà vị làm chủ. Vị khí hoà tắc khí của thiếu dương sẽ điều đạt.

4. Phép ôn hoá đàm ẩm:

Triệu chứng: ho hen do đàm ẩm, sợ lạnh, ngắn hơi thở dốc, không nắm được.

Thuốc thường dùng: quế chi, bạch truật, Phục linh, chích cam thảo, sinh khương, bán hạ, ngũ vị tử, tế tân.

Đàm ẩm là chứng hậu đặc thù của bệnh về đàm cũng gọi là ẩm tà, thuỷ ẩm. Đặc điểm của đàm ẩm là nói chung đàm chứng là do ho hen gây ra, duy chỉ đàm ẩm khái thấu là do đàm ẩm gây ra. Nguyên nhân là tỳ dương hư nhược không vận hoá được thấp, thấp tích lại sinh đàm, ảnh hưởng đến túc giáng của phế khí cố nhiên phép chữa phải ôn vận hoà trung, theo căn bản mà chữa. Kim qui yếu lược đã nói "Bệnh đàm ẩm nên lấy thuốc ôn hoà mà chữa".

Như trên đã nói hoá đàm táo thấp thường thiên về ôn ấm. Nhưng tính chất ôn hoá đàm ẩm cơ bản khác. Đàm thấp chỉ là tạm thời, trừ đàm hoá thấp để đạt đến mục đích điều trị, đàm ẩm lại do bệnh mãn tính của tỳ dương hư gây nên. Tất phải kiện tỳ phù dương để ứng chế sản sinh đàm trọc, không phải là dùng phương pháp hoá đàm để giải quyết.

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************

Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích. Hãy chia sẻ để tạo phúc cho mình và giúp đỡ mọi người.

 
Tư vấn sức khỏe trực tuyến Tư vấn sức khỏe trực tuyến Tư vấn sức khỏe trực tuyến


Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH
Tư vấn sức khỏe trực tuyến  Tư vấn sức khỏe trực tuyến   Đầu trang