Như đã biết, tỳ vị là bộ phận rất trọng yếu về sinh lý của cơ thể, là cái gốc của hậu thiên. Tỳ vị suy yếu là một trong những nguồn gốc của tật bệnh. Ngoại tả có thể cảm nhiễm vào cơ thể người ta được là do chính khí hư. Tỳ vị hư súy là điều kiện phát sinh ra nhiều bệnh tật như các bệnh về khí, huyết, đờm, thực trệ và thấp.
Khí nói ở đây là khí hậu thiên, tức là khí của tỳ vị và phế. Trong cơ thể không chỗ nào là không có khí để duy trì sự sống của con người. Tên gọi của nó rất nhiều: Chân khí, tôn khí v.v... ngũ tạng, lục phủ đều có khí. Nhưng nói ở đây là nguyên khí hay còn gọi là chân khí. Nguyên khí trong cơ thể người ta do hai bộ phận kết hợp tạo nên: Một là khí trời do hô hấp, bộ phận đó có quan hệ với tạng phế, nói phế chủ khí là nói bộ phận đó. Hai là khí thuỷ cốc, còn gọi là cốc khí, bộ phận này liên quan với tỳ vị. Hai bộ phận đó không thể thiếu một được. Người ta không hô hấp sẽ chết. Công năng của phế thất thường sẽ dẫn đến khí hư gọi là phế khí hư. Ở đây ta bàn về tỳ vị không điều hoà ảnh hưỏng đến ăn uống và chuyển vận làm cho khí thuỷ cốc không đủ, lâu ngày sẽ sinh bệnh. Triệu chứng: Người mỏi mệt, xanh xao, tiếng nói nhỏ nhẹ, đoản hơi, ăn ít, người gầy, hay đầy bụng, ỉa lỏng, người lạnh mạch hữu thốn vô lực, hữu quan trì và dàn sáp v.v... Những biểu hiện đó gọi là tỳ khí hư hay tỳ dương hư. Phải dùng các loại cam ôn để ích khí như: Sâm, kỳ, truật, thảo v.v... các bài như Tứ quân tử thang, Sâm linh bạch truật tán khí thang, Lý trung thang ... Từ đó ta thấy bổ tỳ có thể ích khí.
Bàn về sinh huyết, thời có nhiều luận điểm khác nhau, nhưng đại thể có hai nhận thức: Một phái cho là huyết trực tiếp sinh ra ở tỳ; một phái khác cho là huyết gián tiếp sinh ra ở tỳ. Tuy về lập luận khác nhau, nhưng thống nhất với nhau một điểm là: sinh ra huyết có liên quan mật thiết đến tỳ vị. Sách nói rằng: “Bổ huyết phải dùng vị mới có kết quả”. Đó là ý nghĩa rất sâu sắc và cũng là lý lẽ không có dương thì âm không thể sinh được. Vì vậy khí có khả năng sinh huyết. Thực tế trên lâm sàng gặp chứng huyết hư dùng phương thuốc điều trị đơn độc bổ huyết rất ít mà phần nhiều là chữa cả khí và huyết như bài Bát trần thang, bài Thập toàn đại bổ thang. Có khi bổ khí nặng hơn bổ huyết như bài Quy tỳ thang. Có khi chỉ bổ khí như bệnh huyết thoát uống Độc sân thang. Hay như bệnh huyết hư có các triệu chứng như: Ngày nhẹ đêm nặng, đói không muốn ăn, không ngủ, hư trướng, phải bổ tỳ âm.
Nguyên khí của vị tốt thì ăn nhiều cũng không tổn thương, quá bữa cũng không đói. Tỳ vị đều vượng thì có thể ăn được mà béo, tỳ vị đều hư thời không ăn được mà gầy. Ông Đông Viên nói: “Ăn uống không được điều độ thời vị bệnh trước, tỳ không có chỗ bẩm thụ cũng sẽ sinh bệnh sau. Làm việc quá mệt mỏi thời tỳ sinh bệnh trước, không làm được chức năng vận khí cho vị, nên vị cũng sinh bệnh sau”.
Từ những luận điểm trên cho ta biết rằng: Thực trệ do hai nguyên nhân: Một là do ăn uống không có điều độ, quá đói, quá no hoặc ăn quá nhiều đồ cứng rắn, hoặc đồ sống lạnh, đồ dầu mỡ xào rán v.v... làm trở ngại tiêu hoá. Hai là do tỳ vị suy nhược không làm được chức năng chuyển vận.
Như vậy người xưa đã xác định rõ bệnh thực trệ có nhiều nguyên nhân khác nhau nên phép chữa cũng không chấp nhất. Mặt khác còn phải xem xét nguồn bệnh, thể chất khoẻ mạnh hay yếu đuối.
Trên lâm sàng cần phải phân biệt rõ ràng. Nếu như do tỳ vị sinh ra tích trệ thì phải đồng thời tiến hành cả tiêu và bổ, hoặc bổ nhiều tiêu ít, hoặc bổ trước tiêu sau. Đối với người khoẻ mạnh, tích trệ không nặng thời dùng những loại thuốc bình thường như bài Bình vị tán, Chỉ truật hoàn v.v.. Nếu như tích trệ nghiêm trọng thời phải dùng phép công trục như Thừa khí thang, Bị cấp hoàn v.v...
Nói đến đờm thời có rất nhiều nguyên nhân sinh ra như: Thấp, hàn, nhiệt phong v.v... Người xưa nói: “đờm sinh ra trăm bệnh” có nghĩa là nói đờm có quan hệ nhiều bệnh. Nó không phải là tác nhân nhưng là môi giới của tác nhân để biểu hiện ra nhiều triệu chứng khác nhau. Nói đờm ở đây là nói đờm có liên quan đến tỳ vị, hay nói đến vấn đề nguyên nhân sinh ra đờm.
Trước hết y học nhận thức rằng: Đờm có liên quan đến 3 kinh, tỳ, phế, thận, nhưng tạng phế ít sinh ra đờm mà chỉ là dụng cụ chứa đờm (phế vị trữ đờm chi khí). Sinh ra đờm chính là ở hai kinh tỳ và thận. Hoá sinh ra đờm là tỳ, nguồn gốc của đờm là thận. Vì rằng đồ ăn thức uống vào vị sau khi chuyển hoá thành các chất dinh dưỡng, tỳ sẽ chuyển vận đi nuôi cơ thể, nhưng tỳ hư vận không chuyển đi hết, số còn lại ủng trệ lại sinh ra đờm. Đó là đờm sinh ra ở tỳ. Mặt khác do tỳ hư không chế được thuỷ, thận hư nên nước tràn lên cũng sinh ra đờm. Như vậy đờm cũng là thuỷ và tân dịch hóa ra. Tân dịch là do ngũ cốc hoá ra. Cho nên vấn đề sinh ra đờm có liên quan đến tỳ vị. Nếu tỳ cường vị kiện, lưu thông tốt thời thủy cốc ăn vào tiêu hoá mà sinh ra khí huyết thời đờm làm sao sinh được. Người béo nhưng mệt mỏi, tỳ vị không điều hoà, ăn ít, bực tức là vị có thấp đờm, uất trệ ở trung tiêu, dẫn đến thanh dương không thăng, trọc âm không giáng, gây nên bĩ tắc, đầy chướng. Phải cho uống bài Tứ quân thang thêm trần bì, bán hạ.
Tóm lại, tỳ tạng hư nhiệt có quan hệ đến vấn đề sinh đờm. Khi gặp bệnh đờm phải xem xét kỹ nếu do tỳ hư sinh đờm phải ôn bổ trung khí làm cho nó chuyển vận tốt thời đờm sẽ hết.
Bệnh trứng thấp đại thể có hai loại: Ngoại thấp và nội thấp.
- Ngoại thấp là do ăn ở, làm việc nơi ẩm ướt lâu ngày, hoặc đi mưa, hoặc dầm mình dưới nước cảm nhiễm thấp khí vào.
- Nội thấp là do ăn uống quá nhiều đồ sống lạnh v.v... gây trở ngại cho sự tiêu hoá, vận chuyển của tỳ vị mà sinh ra, hoặc do tỳ vị vốn hư nhược.
Cả hai loại thấp đó căn bản do tỳ thổ hư nhược, thấp tà nhân đó xâm nhập, mà khí xâm nhập vào thì tỳ không có sức chế hoá mối phát thành bệnh thấp được.
Ngoài ra bản thân tỳ hư cũng sinh thấp, vì tỳ hư thời sự vận chuyển không tốt, thuỷ dịch động lại sinh ra thấp. Các bệnh thấp, thuỷ mãn đều thuộc về tỳ (nội kinh).
Do đó, chữa bệnh thấp phần nhiều phải kiện tỳ táo thấp. Tất nhiên là với bệnh ngoại thấp thì phải lợi tiểu tiện, phải lợi thấp khử phong là chính, kiện tỳ táo thấp là thứ yếu. Nhưng với bệnh nội thấp thì phải khẳng định là phải kiện tỳ táo thấp. Ví như bệnh đới hạ, cho uống Lục quân tử thang, Di công tán hoặc Tiên giao tán v.v...
Từ 5 vấn đề trên, ta thấy rằng: Nếu tỳ vị không mạnh thời thuỷ cốc không thể tiêu hoá, cơ thể không tiếp thu được chất dinh dưỡng; Do đó mà sinh ra khí hư, huyết hư, thực trệ đờm và thấp là những nhân tố cho bệnh phát sinh. Các nhân tố đó kết hợp với các nhân tố khác như: Phong, hàn, thử v.v... sẽ phát sinh ra nhiều bệnh tật như phong đờm, đờm hoả, thấp nhiệt đới hạ v.v...
Qua đó, y học cổ truyền rất coi trọng tỳ vị và cho rằng tỳ vị tốt thì sẽ hạn chế rất nhiều bệnh tật.
Tỳ vị là cái gốc nguyên khí hậu thiên của con người, ăn uống là cơ quan sinh phát hoá nguyên của con người. Xem xét về cơ năng sinh lý và về phương hướng vận động lại mâu thuẫn, đối lập nhau. Nhưng chúng lại hỗ trợ nhau, tạo nên một thể cân bằng và thống nhất rất tinh vi tế nhị.
Thổ là mẹ của vạn vật, nên tỳ vị có mối quan hệ đặc biệt đối với tất cả các bộ phận trong cơ thể người ta. Tỳ vị mạnh thời cơ thể sẽ khoẻ mạnh, tỳ vị suy nhược là nguyên nhân quan trọng phát sinh nhiều bệnh tật. Vì vậy, y học cổ truyền coi việc điều lý tỳ vị là nhiệm vụ hàng đầu của việc điều trị. Song
cũng có trường hợp tỳ vị suy nhược trực tiếp phù vị, kiện tỳ mà lại dùng phương pháp bổ máu. Đó là đặc điểm lớn của y học cổ truyền.
Tỳ vị có vị trí rất quan trọng đối với cơ thể con người, nên các bậc tiền bối đã dày công nghiên cứu, viết ra biết bao sách vở để giải thích và truyền thụ cho đời sau. Sự trình bày trên đây chỉ là những khái quát.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|