Bài thuốc chữa bệnh - Banner
HOME MENU Bài thuốc chữa bệnh - Tìm kiếm

Phép thanh nhiệt chỉ huyết, ích khí chỉ huyết, bình can chỉ huyết

Chỉ huyết (cầm máu)

Phép chỉ huyết thường dùng trong trường hợp rong huyết, băng huyết và lậu huyết, trước tiên cần phải phân biệt vị trí xuất huyết. Xuất huyết ở đại tiêu trường và ở mũi có nguyên nhân khác nhau, người bị xuất huyết lâu không cầm phần nhiều có liên quan đến trung tiêu.

Điều trị xuất huyết không nên thiên về chỉ huyết mà phải chú trọng đến nguyên nhân gây ra xuất huyết. Nói chung khi huyết gặp nhiệt thì không chảy theo một qui luật nhất định (huyết nhiệt vong hành) vì vậy phải dùng phép thanh huyết để trị. Theo lý luận khí hành thì huyết hành cho nên phải dùng các thuốc thuận khí hay bổ khí để chỉ huyết và nhiếp huyết.

Trong các bài chỉ huyết không phải chỉ dùng các vị thuốc có tác dụng cầm máu, cần phải phân biệt tính vị của các loại thuốc đó và công năng chủ trị của nó. Người xưa cho rằng thuốc chỉ huyết có 24 loại mang tính mắt (lương) có loại mang tính âm (ôn) bổ huyết và hóa ứ cũng có tác dụng chỉ huyết. Ngày nay danh từ chỉ huyết chỉ dùng cho các trường hợp xuất huyết cục bộ.

Bài thuốc chỉ huyết

Chứng xuất huyết ban đầu không dùng các thuốc lương huyết để chỉ huyết, đề phòng ứ huyết ở bên trong. Trường hợp bị ứ huyết tạo thành những đám màu tía hoặc đen không nên dùng các bài thuốc có tác dụng chỉ huyết đơn thuần. Dùng thuốc hàn lương kéo dài để làm tổn thương đến tỳ dương, tỳ dương bị thương tổn sẽ làm cho huyết không lưu thông trong kinh mạch được.

Phép thanh nhiệt chỉ huyết

Triệu chứng: Tâm phế, can, vị có nhiệt gây nên thố ra máu, chảy máu mũi...

Thuốc thường dùng: Sinh địa, xích thược, đơn bì, hắc sơn chi, hoàng cầm, hoàng liên, ngân hoa, trắc bá diệp, sơn tra hoa, ngẫu tiết, mao hoa, tỳ thảo, tiền hạc thảo.

Hầu hết ngoại cảm ôn tà và nội thương gây nên có thể làm cho huyết nhiệt vọng hành; loại xuất huyết này thường là nôn ra máu, chảy máu mũi, máu có màu hồng tía. Điều trị nên thanh tiết huyết nhiệt. Dùng bài thanh nhiệt giải độc thang gồm: sinh địa, xích thược, đơn bì để thanh huyết nhiệt làm chủ và sau đó nên căn cứ vào nhiệt ở tạng phủ nào mà gia giảm thêm hoàng liên, sơn chi, hoàng cầm, liên kiều, hoàng bá... Căn cứ vào chứng trạng mà gia giảm, sử dụng thuốc cầm máu phải chú ý đến vị trí chảy máu.

Chẳng hạn như chảy máu mũi nhiều dùng mao hoa, thổ huyết nhiều dùng trắc bách diệp, ty thảo, ngẫu tiết, tiểu tiện ra máu nhiều dùng bồ hoàng, tiểu kế, đại tiện ra máu nhiều dùng hoè hoa, địa du.

Phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều thì dùng tông lư thán, huyết dư thán...

Thanh nhiệt chỉ huyết là một phương pháp rất hay dùng chứng phong nhiệt lúc đầu xuất hiện tỵ nục, khái huyết chứng trạng không nghiêm trọng chỉ dùng bài tang cúc ẩm (tang diệp, cúc hoa, hạnh nhân, liên kiều, cát cánh, cam thảo, lô căn) hay bài ngân kiều tán (liên kiêu, ngân hoa, bạc hà, kinh giới, đậu cổ, ngưu bàng, cát cánh, trúc diệp, lô căn, cam thảo) và gia thêm các vị chỉ huyết. Khi nghiên cứu thành phương tất nhiên phải chú ý là nếu chảy máu mũi thì dùng bài ngân kiều tán, bỏ kinh giới đậu cổ, gia mao căn, trắc bách diệp sao, hắc sơn chi, tà mới nhập doanh phận thì dùng bài tang cúc ẩm gia huyền sâm, linh dương giác, tà nhập huyết phận khử bạc hà, lô căn, gia mạch môn, sinh địa ngọc trúc, đơn bì.

Phép ích khí chỉ huyết:

Triệu chứng: Tiện huyết lâu ngày, phụ nữ băng lâu.

Thuốc thường dùng: hoàng kỳ, đẳng sâm, chích thảo, thục địa, a giao, thán khương, tông lư thán, mẫu lệ, huyết dư thán.

Khí ở đây là chỉ trung khí, trung khí chủ thăng, làm tăng thêm sức mạnh. Nguyên nhân do khí hư mà dẫn đến máu chảy không cầm thì gọi là tỳ bất năng thông huyết, bổ trung ích khí để chỉ huyết, cũng gọi là “Bổ khí nhiếp huyết pháp”. Trung khí thuộc về tỳ, tỳ lại thích ôn vì vậy bổ khí nhiếp huyết thường dùng thuốc cam ôn. Đó là các phương pháp thường dùng đối với trường hợp tiện huyết kéo dài, đi ngoài phân đen, phụ nữ băng lậu...

Ví dụ: như bài Hoàng thổ thang (đất lòng bếp, thục địa, bạch truật, phụ tử, a giao, hoàng cầm, chích thảo) trị tiện huyết. Bài cố bản chỉ băng thang (nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, thục địa, đương quy, bào khương) trị băng huyết, mặt mày xây xẩm đều dùng vị cam ôn bổ trung làm chủ, dưỡng huyết thu liễm. Điều trị các bệnh dạ dày và ruột thường dùng bài hoàng kỳ kiến trung thang, để trị xuất huyết và đề phòng xuất huyết thay sinh khương thành bào khương và thêm a giao. Phép ích khí sử dụng trị xuất phân thành 2 loại một là tỳ vị hư hàn khí bất nhiếp càn bản do trung khí bất túc thì dùng hoàng thổ thang. Một loại là huyết xuất quá nhiều, trung khí bị tổn thương nhiều, khí và huyết bị thoát phải dùng bài cố bản chỉ băng thang là chính. Bất luận thuộc loại nào, trừ trường hợp huyết hư, thường biểu hiện hơi thở ngắn, ăn ít, ngại vận động, mạch hư...đều gọi là chứng khí hư. Dùng độc sâm thang để trị chứng thổ huyết nhiều, hiện tượng hư thoát. Nói chung chứng xuất huyết không dùng thuốc bổ khí và những trường hợp có nội nhiệt thì không dùng.

Phép binh can chi huyết:

Triệu chứng: can khí thượng nghịch, uất kim, đơn ấu huyết, nục huyết.

Thuốc thường dùng: Bạch thược, chỉ xác, uất kim, đơn bì, sơn chi, sinh thạch quyết, trầm hương.

Nguyên tắc trị thổ huyết có ba loại: Một là nên hành quyết không nên chỉ huyết, huyết không theo kinh lạc, do khí nghịch ứng tắc ở trên.

Hai là nên bố can không nên phạt can: Dưỡng can tắt can khí bình thì huyết sẽ trở lại.

Ba 1 nên giáng khí không nên giáng hoả, khí giáng thì hoả giáng, hoả giáng thì khí không thăng.

Tuy chia ba loại nhưng chỉ là phép bình can. Phương pháp này thường được dùng nhiều khi can bị bệnh. Ví dụ như can bệnh có xuất huyết thường thấy xuất hiện chứng đau ngực sườn nếu cho là khí trệ mà phá khí sẽ làm cho can thương tổn sẽ không cầm được huyết.

Phép thanh phế chỉ huyết:

Triệu chứng: Phế hư nội nhiệt gây ho ra máu.

Thuốc thường dùng: mã đậu linh, hạnh nhân, bối mẫu, trắc bá diệp, ngẫu tiết, tiên hạc thảo, bách hợp, sa nhân, mạch môn.

Nói chung khi thấy ho ra máu, thường nghĩ đến phế lao. Vì vậy mà thường dùng phương thanh bổ ninh lạc. Thực ra có rất nhiều nguyên nhân gây nên ho ra máu, có thể do khí hoả, hoặc phong nhiệt gây nên, chủ yếu dùng phép thanh nhiệt chỉ huyết để điều trị. Nếu như ho ra máu lâu ngày không khỏi, xuất hiện chứng trang phế hư dùng sa sâm, mạch môn để thanh bổ, không cầm được huyết vì phế đã hư nên gia thêm sinh địa, bạch cập, a giao. Người xưa rất coi trọng chứng khái huyết, có nhiều phương tễ nhưng đều thống nhất một nguyên tắc trị liệu. Đó là hoặc kết hợp bổ khí, hoặc kết hợp tư thân, hoặc kết hợp thanh can, có rất nhiều phương pháp điều trị cụ thể và phương tễ phức tạp.

Phép khử ứ chỉ huyết

Triệu chứng: tổn thương do trật dã (bị đánh ngã) xuất huyết nội tạng, hông ngực đau như dao cắt do huyết ứ.

Thuốc thường dùng: đương qui, xích thược, đào nhân, hồng hoa, tam thất, uất kim, mẫu đơn. Đây là phương pháp thường dùng với trường hợp thổ huyết có huyết ứ bên trong là vừa chỉ huyết vừa khử ứ. Nhưng chủ yếu là khử ứ, bởi vì ứ mà không mất đi thì huyết không qui kinh được. Cho nên trong khoa chấn thương có rất nhiều thuốc chỉ huyết trên thực tế là thuốc hòa huyết, hoạt huyết, ở đây ta chỉ bàn đến vấn đề dùng dược liệu đốt cháy để cầm máu. “Bản thảo cương mục”, từng nói “các thuốc sao cháy đen đều có khả năng chỉ huyết”. Sau này cũng có rất nhiều thuốc chỉ huyết đều sao thành than, có nhiều loại thuốc sau khi sao cháy sẽ thay đổi tính chất hoặc giảm tác dụng. Người xưa dùng bài thập khôi tán (Đại tiểu kế, trắc bá diệp, lá sen, mao căn, tỳ thảo, đại hoàng, sơn chi, tông lư thán, đơn bì) và bài tứ sinh hoàn (trắc bá diệp, hà diệp, ngải diệp, sinh địa).

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************

Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích. Hãy chia sẻ để tạo phúc cho mình và giúp đỡ mọi người.

 
Tư vấn sức khỏe trực tuyến Tư vấn sức khỏe trực tuyến Tư vấn sức khỏe trực tuyến


Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu copy nội dung hãy để lại link về bài gốc như một sự tri ân với tác giả. Xin cảm ơn!
Thông tin trên Website :www.thaythuoccuaban.com chỉ có tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
. Địa chỉ: Số 482 lô 22C Đường Lê Hồng Phong, Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng. GP : 197GCN HNY SYTH
Tư vấn sức khỏe trực tuyến  Tư vấn sức khỏe trực tuyến   Đầu trang