Đó là khối áp xe nằm tựa lên màng cứng ở hố sọ giữa hoặc hố sọ sau (đối với áp xe quanh xoang tĩnh mạch bên).
Như vậy áp xe ngoài màng cứng bao gồm cà áp xe quanh xoang tĩnh mạch bên.
Áp xe ngoài màng cứng do viêm tai xương chũm mạn tính viêm hay viêm tai xương chũm cấp tính gây nên theo một trong 3 đường sau:
Do sự ăn mòn xương: thường gặp nhất.
Do lan theo đường mỏ sợi được tạo lập trước.
Do các tĩnh mạch nhỏ bị huyết khối vỡ ra mà xương ở bên trên nó còn nguyên vẹn, hiếm gặp.
Luôn có sự hình thành mô hạt viêm bảo vệ giữa khối mủ và màng cứng. Tuy nhiên ở một số trường hợp khối cholesteatome tiến triển lớn lên làm ăn mòn xương, bộc lộ màng cứng và lớp màng matrice của nó lót trực tiếp lên màng cứng. Ở vị trí này có rất ít hay không có mỏ hạt viêm. Trong trường hợp này mặc dù không có mủ tựa lên màng cứng, một số tác giả vẫn xếp nó vào áp xe ngoài màng cứng do màng cứng tiếp xúc trực tiếp với vùng bị viêm nhiễm.
Phần lớn trường hợp áp xe ngoài màng cứng tiến triền âm thầm, không có triệu chứng đặc hiệu và thường được phát hiện lúc mổ. Sau đây là các dạng khiến thầy thuốc nghi ngờ có áp xe ngoài màng cứng:
Có hiện tượng đập của tai, rõ lên khi ta dè vào tĩnh mạch cành trong.
Đau đầu kéo dài ở bên tai bệnh.
Sốt nhẹ kéo dài không rõ nguyên nhân theo sau 1 viêm tai giữa cấp tính.
Viêm màng não không do Meningococcus tái phát nhiều lần.
Trong một số trường hợp, có phản ứng màng tai, mũi, họng và có dấu hiệu: đau đầu, cứng gáy, dịch não tủy đục và vỏ trùng, bạch cầu và albumin tăng.
Một số hiếm trường hợp khi khối áp xe ngoài màng cứng rất lớn gây chèn ép não gây triệu chứng tăng áp lực nội sọ: nôn vọt, phù gai thị, mạch chậm nhưng không có triệu chứng thần kinh khu trú như áp xe não.
C.T.Scan giúp chẩn đoán áp xe ngoài màng cứng rất tốt.

Nếu được mổ kịp thời áp xe ngoài màng cứng sẽ khỏi nhanh chóng. Nếu không điều trị: túi mủ sẽ tự võ, thường vỡ vào khoang dưới nhện gây viêm màng não lan tỏa rất nặng. Túi mủ cũng có thể gây áp xe não.
Điều trị gồm phẫu thuật khoét xương chũm hay khoét rồng đá chũm. Màng cứng có thể tự bộc lộ do bệnh tích hoặc thầy thuốc phải chủ động bộc lộ khi có các dấu hiệu nghi ngờ kể trên. Khi tìm được ổ áp xe, phải bộc lộ màng cứng và xung quanh nó cho đến chỗ lành để bảo đàm là không còn vùng nào còn mủ che lấp.
Kháng sinh được dùng đồng thời và sau mổ để ngăn ngừa sự nhiễm trùng lan rộng qua lớp mô hạt bào vệ mà chắc chắn sẽ bị tổn hại phần nào do phẫu thuật.
Đau đầu như bị vỡ, miệng khát muốn uống, đi ngoài bí, tiêu đỏ, ợ chua, lưỡi đỏ, rêu nhót, mạch huyền hoạt.
Thanh nhiệt giải độc.
* Bài thuốc: Thanh ôn bại độc ẩm (“Dịch chẩn nhất đắc") gia giảm.
Sinh Thạch cao 30g; Tri mẫu 12g
Hoàng liên 05 g; Hoàng cầm 09g
Sơn chi 09g; Thuỷ Ngưu giác 30g
Sinh địa 30g; Xích thược 12g
Xuyên khung 30g; Cát căn 30g
Cát cánh 06g; Cam thảo 03g.
Người nóng, đầu đau đều giảm nhẹ nhưng đầu choáng váng, mất sức, mệt mỏi, miệng khô nhất là lúc nửa đêm, miệng khô nhưng muốn uống nhiều, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền tê.
Dưỡng âm, bổ khí.
Tăng dịch thang (“Ôn bệnh điều biện") gia giảm.
- Sinh địa 30g; - Huyền sâm 12 g
- Mạch đông 12 g; - Hoa phấn 12 g
- Đang sâm 12 g; - Hoàng kỳ 12 g
- Xuyên khung 12 g; - Cát căn 12 g
- Cam thảo 06 g.
Thaythuoccuaban.com Tổng hợp
*************************
|