Vị thuốc Xuyên khung còn gọi Khung cùng (Bản Kinh), Hương thảo (Ngô Phổ Bản
Thảo), Sơn cúc cùng (Tả Truyền), Hồ cùng, Mã hàm khung cùng (Biệt Lục), Tước não
khung, Kinh khung (Bản Thảo Đồ Kinh), Quý cùng (Trân Châu Nang), Phủ khung (Đan
Khê Tâm Pháp), Đài khung (Bản Thảo Mông Thuyên), Tây khung (Cương Mục), Đỗ khung
, Dược cần, Cửu nguyên xuẩn, Xà hưu thảo, Xà ty thảo, Kinh khung (Hòa Hán Dược
Khảo), Giả mạc gia (Kim Quang Minh Kinh).
Tác dụng: Xuyên khung
+ Ôn trung nội hàn (Biệt lục).
+ Bổ huyết (Y Học Khải Nguyên).
+ Sấu Can khí, bổ Can huyết, nhuận Can táo, bổ
phong hư (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Nhuận táo, chỉ tả lỵ, hành khí, khai uất (Cương
Mục).
+ Điều hòa mạch, phá trưng kết, súc huyết, tiêu
huyết ứ ( Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Hành khí, khai uất, khứ phong, táo thấp, hoạt
huyết, chỉ thống (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Hoạt huyết, hành khí, khứ phong, chỉ thống (Trung
Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).
+ Hoạt huyết, hành khí, khu phong, chỉ thống (Sổ
Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Chủ trị: Xuyên khung
+ Trị đầu đau do phong hàn nhập vào não, đau
nhức do hàn, khớp bị đau, co rút, phụ nữ huyết bị bế, không con (Bản Kinh).
+ Trị các chứng hàn khí, ngực bụng đau, trúng
ác khí, thình lình bị sưng đau, hông sườn đau, chân răng ra máu (Biệt lục).
+ Trị lưng đùi mỏi yếu, bán thân bất toại, nhau
thai không ra, bụng đau do lạnh (Dược Tính Luận).
+ Trị phong hàn, đầu đau, chóng mặt, hông
sườn đau, bụng đau, đau nhức do hàn, kinh bế, sinh khó, sinh xong huyết bị ứ
gây đau, mụn nhọt (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Trị Can kinh bất điều, kinh bế, hành kinh
bụng đau, trưng hà, bụng đau,ngực sườn đau như kim đâm, té ngã sưng đau, đầu đau,
phong thấp đau nhức (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Điển) .
+ Trị kinh nguyệt rối loạn, kinh bế, hành kinh
bụng đau, sinh khó, sau khi sinh bụng đau, ngực sườn đau tức, tay chân tê dại,
mụn nhọt đau nhức, chấn thương té ngã, đầu đau, phong thấp tý (Sổ Tay Lâm Sàng
Trung Dược).
Liều dùng: 4 - 8g .
Kiêng kỵ:
+ Bệnh thượng thực hạ hư, âm hư hỏa vượng, nôn
mửa, ho, mồ hôi tự ra, mồ hôi trộm, họng khô, miệng khô, phát sốt, phát khát,
phiền táo, không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Khí thăng, đờm suyễn, không dùng (Bản Thảo
Tùng Tân).
+ Bụng đầy, Tỳ hư, ăn ít, hỏa uất, không dùng (Đắc
Phối Bản Thảo).
+ Uống Xuyên khung lâu ngày làm mất chân khí (Phẩm
Hối Tinh Nghĩa).
+ Xuyên khung sợ vị Hoàng kỳ, Sơn thù, Lang độc
; Ghét vị Tiêu thạch, Hoạt thạch, Hoàng liên ; Phản vị Lê lô (Bản Thảo Mông
Thuyên).
+ Hợp với Bạch chỉ làm thuốc dẫn, sợ vị Hoàng
liên (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+ Âm hư hỏa vượng, thượng thực hạ hư mà khí hư,
không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị phụ nữ có thai trong bụng đau: Khung cùng
80g, A giao 80g, Cam thảo 80g, Ngải diệp 120g, Đương quy 120g, Thược dược 160g,
Can địa hoàng 240g. Sắc uống. (Giao Ngải Thang - Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị thai khí bị tổn thương làm thai động
không yên hoặc thai chết trong bụng: Dùng Khung cùng, tán bột, uống với rượu
hoặc dùng Xuyên khung, Quy vĩ, Quế tâm, Ngưu tất (Thiên Kim phương).
+ Trị băng trung, hạ huyết, tân dịch không cầm:
Xuyên khung, Tục đoạn, Thục địa, Bạch giao, Đỗ trọng, Sơn thù, Ngũ vị tử, Nhân
sâm, Hoàng kỳ, Toan táo nhân (Thánh Huệ phương).
+ Trị tửu tích, hông sườn trướng, ói mửa, bụng
có nước: Xuyên khung, Tam lăng đều 40g, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước sắc
Thông bạch (Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị cơ thể và các khớp đau nhức: Xuyên khung,
Bạc hà đều 6g, Tế tân 4g, Khương hoạt 8g, Bạch chỉ, Phòng phong, Kinh giới đều
12g, Cam thảo 4g. Sắc uống (Xuyên Khung Trà Điều Tán - Cục phương).
+ Trị khí hư, đầu đau: Xuyên khung tán bột. Mồi
lần uống 8g (Tập Giản phương).
+ Trị khí quyết, đầu đau, phụ nữ khí thịnh đầu
đau, sản hậu đầu đau: Dùng Xuyên khung, Thiên thai ô dược. Lượng bằng nhau, tán
bột. Mỗi lần uống 8g với nước trà Ngựcï Dược Viện).
+ Trị phong nhiệt đầu đau: Xuyên khung 4g, Trà
diệp 8g. Sắc uống nóng (Giản Tiện phương).
+ Trị đầu phong, hóa đờm: Xuyên khung thái nhỏ,
sấy khô, tán bột, luyện mật làm hoàn. Ngày uống 4-6g với nước trà (Kinh Nghiệm
Hậu phương).
+ Trị nửa đầu đau do phong: Xuyên khung, tung
bột, ngâm rượu, uống (Đẩu Môn phương).
+ Trị phong nhiệt bốc lên, đầu váng, mắt hoa,
ngực không thông: Xuyên khung, Hòe tử đều 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 12g với
nước trà (Tố Vấn Bệnh Cơ Khí Nghi Bảo Mệnh Tập).
+ Trị đầu phong, chóng mặt, giữa đầu đau, mồ
hôi nhiều, sợ gió, ngực có đàm ẩm: Xuyên khung 640g, Thiên ma 160g. Tán bột,
luyện mật làm hoàn. Ngày uống 8-12g với nước trà (Xuyên Khung Hoàn - Tuyên Minh
Luận).
+ Ngực đau: Xuyên khung 1 củ lớn, tán bột, sấy
với rượu, uống. Bệnh 1 năm dùng 1 củ, 2 năm dùng 2 củ (Tập Nghiệm phương).
+ Trị trẻ nhỏ não bị nhiệt, mắt nhắm, thái
dương đau, mắt sưng đỏ: Xuyên khung, Bạc hà, Phác tiêu đều 8g, tán bột, lấy 1 ít
thuốc thổi vào lỗ mũi (Toàn Ấu Tâm Giám).
+ Trị răng và miệng hôi: Lấy nước sắc Xuyên
khung ngậm (Quảng Tế phương).
+ Trị các chứng ung nhọt sưng đau: Xuyên khung
tán bôt, hòa Khinh phấn, trộn với dầu mè bôi (Phổ Tế phương).
+ Trị phụ nữ có thai 5-7 tháng, bị tổn thương
hoặc thai chết trong bụng, máu dơ ra, đau, cấm khẩu: Đương quy 240g, Xuyên
khung 160g. Tán bột, mỗi lần uống 8g, ngày uống 2-3 lần. (Phật Thủ Tán - Bản Sự
phương).
+ Trị ngực sườn đầy tức: Xuyên khung, Thương
truật, Hương phụ, Lục khúc, Sơn chi tử (sao), lượng bằng nhau, tán bột, trộn với
hồ làm hoàn. Mỗi lần uống 8-10g với nước ấm (Việt Cúc Hoàn – Đan Khê Tâm Pháp).
+ Trị sản hậu huyết vận: Đương quy 40g, Xuyên
khung 20g, Kinh giới huệ (sao đen) 8g, sắc uống (Kỳ Phương Loại Biên).
+ Trị sản hậu ngực và bụng đau: Xuyên khung,
Quế tâm, Mộc hương, Đương quy, Đào nhân đều 40g, Tán bột, mỗi lần uống 4g với
rượu nóng (Khung Quy Tán -Vệ Sinh Gia Bảo).
+ Trị sản hậu bị té ngã đau: Đương quy 32g,
Xuyên khung 12g, Đào nhân 14 hột (bỏ vỏ và đầu nhọn), Hắc khương 2g, Chích thảo
2g. Dùng rượu và Đồng tiện sắc uống (Sinh Hóa Thang - Nam Nữ Khoa).
+ Trị kinh bế, kinh nguyệt không đều, sinh khó,
nhau thai không ra: Xuyên khung, Ích mẫu thảo, Sung úy tử, Đương quy, Bạch
thược (Ích Mẫu Thảo Kim Đơn - Y Học Tâm Ngộ).
+ Trị hành kinh bụng đau (do huyết ứ): Xuyên
khung, Hồng hoa, Đào nhân, Đương quy, Bạch thược (Đào Hồng Tứ Vật Thang -Y Tông
Kim Giám).
+ Trị nửa người liệt do tai biến mạch máu não:
Xuyên khung, Đương quy, Sinh địa, Bạch thược, Đào nhân, Hồng hoa, Chỉ xác, Sài
hồ, Cát cánh, Ngưu tất, Cam thảo (Huyết Phủ Trục Ứ Thang -Y Lâm Cải Thác).
+ Trị phá thương phong: Dùng Xuyên khung hợp
với Kinh giới, Bạch chỉ, Đương quy, Địa hoàng, Thược dược, Bạch truật, Cam thảo.
Mùa đông thêm Quế chi (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị ngực sườn đầy tức: Xuyên khung, Hồng hoa
mỗi thứ 6g, Quy vĩ, Chỉ xác đều 10g, Thanh bì, Hương phụ, Đào nhân đều 8g. Cho
nước và rượu mỗi thứ 1 nửa, sắc uống (Khung Qui Tả Can Thang - Sổ Tay Lâm Sàng
Trung Dược).
+ Trị ngực sườn đầy tức:Xuyên khung, Hồng hoa,
lượng bằng nhau, chế thành phiến (cứ 12 phiến chứa 20g Xuyên khung và Hồng hoa).
Mỗi lần uống 4 phiến, ngày 3 lần. 4-6 lần là 1 liệu trình. Trị 84 trường hợp (có
10 trường hợp suốt liệu trình có thêm Cát căn Hoàng Đồng Phiến, ngày 3 lần, mỗi
lần 2ml; 2 người dùng 2 loại thuốc trên thêm Nhũ hương, Một dược). Kết quả: hiệu
quả thấp: 9, tốt: 57, không kết quả 17, nặng hơn: 1 (Lâm Sàng Thường Dụng Trung
Dược Thủ Sách).
+ Trị bệnh động mạch vành, ngực đau thắt: Dùng
Xuyên khung chiết xuất chất Acid A ngùy (Ferulic) 20mg cho vào Glucosa 5% -
250ml, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 1 lần, liên tục 10 lần. Trị 8 trường hợp
bệnh động mạch vành khỏi: 6, hết cơn đau thắt ngực: 6, lượng mỡ trong máu giảm
với mức độ khác nhau (Tân Y Dược Học Tạp Chí 1977, 1:15).
+ Trị bệnh động mạch vành, ngực đau thắt:Dùng
dung dịch kiềm Xuyên khung trị cơn đau thắt ngực 30 trường hợp có kết quả
92,5%, số kết quả tốt: 62,95%. Cơn đau giảm trong 24 giờ chiếm hơn phân nửa,
40% điện tim trở lại bình thường (Tân Y Dược Học Tạp Chí 1977, 1:15).
+ Trị bệnh động mạch vành, ngực đau thắt: Dùng
dung dịch tiêm Xuyên khung truyền nhỏ giọt tĩnh mạch trị 10 trường hợp bệnh mạch
vành đau thắt ngực, kết quả tốt: 7, tiến bộ: 2, không kết quả: 1 (Trung Y Tạp
Chí 1980, 9: 69).
+ Trị nhồi máu não và tắc mạch máu não: Dùng
dịch tiêm Phức Phương Xuyên Khung (Xuyên khung, Đan sâm, Đương quy trị 400
trường hợp nhồi máu não và tắc mạch não 400 trường hợp. Theo dõi bằng chụp động
mạch não, điện tâm đồ, lưu lượng huyết dịch đều có cải thiện (P nhỏ hơn 0,005 -
0,001) tỉ lệ có kết quả là 94,5% (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1986, 6 (4):
234).
+ Trị thần kinh tam thoa đau: Xuyên khung 30g,
Đương quy, Đan sâm, Bạch thược, Sài hồ, Hoàng cầm, Bạch chỉ, Toàn yết, Thuyền
thoái, Địa long đều 8g. Trị 21 trường hợp dây thần kinh tam thoa đau trong 1
tháng, kết quả đạt 90.6% (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí số 1982, 4: 34).
+ Trị đầu đau: Dùng Xuyên khung phối hợp Thạch
cao (sống ), Tế tân, Cúc hoa. (Do phong hàn: thêm Bạch chỉ, Khương hoạt, Phòng
phong; Do phong nhiệt thêm Cúc hoa, Bạc hà, Liên kiều; Do phong thấp thêm Bạch
chỉ, Khương hoạt, Thương truật, Cảo bản; Do huyết ứ thêm Hồng hoa, Đào nhân,
Đương quy, Xạ hương (Thiểm Tây Trung Y Tạp Chí 1985, 10: 447).
+ Trị kinh bế, kinh nguyệt không đều, sinh khó,
nhau thai không ra: Xuyên khung 8g, Đương quy 12g, cho rượu và nước mỗi thứ 1
nửa, sắc uống (Khung Quy Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị cột sống viêm phì đại, xương gót chân có
gai: Xuyên khung tán bột, cho vào bao (bọc) đắp vào chỗ đau hoặc lót vào giầy.
Mỗi tuần thay 1 lần. Sau 5-10 ngày hết hoặc giảm đau. Có người sau 2 tháng lại
tái phát, tiếp tục đắp lại (Tân Học Tạp Chí 1975).
Tên khoa học: Xuyên khung
Ligusticum wallichii Franch-Họ Hoa tán -
Umbelliferae (Apiaceae)
Mô tả:
Xuyên khung là 1 loại cây thảo, sống lâu năm.
Thân mọc thẳng, giữa ruột rỗng, mặt ngoài có đường gân dọc. Lá mọc so le, kép
2-3 lần, lá chét có 3-5 đôi, cuống dài, phiến lá rách sâu, khi dùng tay vò ra có
mùi thơm, cuống lá dài 9-17cm, phía dưới ôm lấy thân. Hoa họp thành tán kép,
cuống tán phụ ngắn chừng 1cm, hoa nhỏ, mầu trắng. Quả loại song bế, hình trứng.
Thu hái: Xuyên khung
Cây trồng sau 2 năm mới bắt đầu thu hoạch.
Phần dùng làm thuốc:
Củ (thân rễ) phơi hay sấy khô của cây Xuyên
khung (Rhizoma ligustici Wallichi). Lựa củ to, vỏ ngoài đen vàng, thái lát ra
thấy vàng trắng, mùi thơm đặc biệt, không thối nát, chắc, nặng là tốt.
Mô tả dược liệu:
Củ như nắm tay, có mấu không đều, nhăn, đường
kính 3-6cm hoặc hơi to. Mặt ngoài mầu nâu vàng, có nhiều mấu vòng tròn hơi lồi,
có nhiều vết hình tròn lõm và bướu nhỏ vết của rễ. Chất cứng, vết vỏ không phẳng,
mầu trắng xám hoặc trắng ngà, có vằn tròn và chấm điểm đầu nhỏ mầu vàng. Mùi
thơm đặc biệt, nồng, vị cay đắng, tê lưỡi (Dược Tài Học).
Bào chế:
+ Lấy Xuyên khung khô ngâm nước 1 giờ, ủ kín độ
12 giờ cho mềm, thái lát dầy 1mm, phơi khô. Xuyên khung ngâm rượu: Thái Xuyên
khung ra từng lát mỏng, ngâm với rượu (cứ 640g Xuyên khung, dùng 8 lít rượu),
sao với lửa hơi nóng cho hơi đen, lấy ra để nguội (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Ngâm nước rồi gạn đi, ủ lại cho mềm là được,
thái phiến, phơi khô, dùng sống hoặc ngâm rượu để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Rửa sạch, ủ 2-3 ngày cho đến khi mềm, củ nào
chưa mềm, ủ lại (không nên đồ vì dễ bị nát, bay hết tinh dầu), thái lát hoặc
bào mỏng 1-2 mm, phơi hoặc sấy nhẹ lửa (40-50o), Nếu dùng sống, sau khi thái có
thể sao qua cho thơm hoặc phơi khô rồi tẩm rượu 1 đêm, sao sơ (Phương Pháp Bào
Chế Đông Dược).
Bảo quản:
Để nơi khô ráo, râm mát.
Thành phần hóa học:
+ Trong Xuyên khung có:
. Một Ancaloid dễ bay hơi, công thức C27 H37
N3, Một Acid C10 H10 O4 với tỉ lệ chừng 0.02%, gần giống Acid Ferulic trong A
ngùy. Một chất có tính chất Phenola với công thức C24 H46 O4 hoặc C23 H44 O4, độ
chảy 108 độ. Một chất trung tính có công thức C26 H28 O4 độ chảy 98 độ, Saponin,
dầu bay hơi, 3 chất kết tinh trong đó có Perlolyrine (Những Cây Thuốc Và Vị
Thuốc Việt Nam).
+ Chuanxiongzine, Tetramethylpyrazine,
Perlolyrine, 1-5-Hydroxymethyl-2-Furyl-9H-pyrido [3,4-b] Indole (Bắc Kinh Chế
Dược Công Á Nghiên Cứu Sở, Trung Dược Thông Báo 1980, 15 (10): 471).
+ Ligustilide, Wallichilide,
3-Butylidenephthalide, 3-Butylidene-7-Hydroxyphthalide Wang Pnshan và cộng sự,
Phytochemistry 1984, 23 (9): 2033).
+ Butylphthalide (Vương Tăng Hỷ, Trung Thảo
Dược 1985, 16 (3): 137).
. Theo Thụ Thượng Sư Thọ: Xuyên khung có tác
dụng trấn tĩnh hệ thần kinh trung ương. Dùng nước sắc Xuyên khung 25-50g/Kg thể
trọng cho uống, thấy có khả năng ức chế ở chuột lớn, kéo dài thời gian ngủ. Tinh
dầu Xuyên khung liều nhỏ có tác dụng ức chế đối với hoạt động của đại não nhưng
lại hưng phấn đối với trung khu vận mạch, hô hấp và phản xạ ở tủy sống (con vật
yên tĩnh, tự động vận động giảm xuống, nhưng huyết áp tăng cao, hô hấp và phản
xạ cũng tăng). Nếu dùng liều quá cao thì đại não bị tê liệt mạnh, các trung khu
phản xạ tủy sống có thể bị ức chế, do đó huyết áp tụt xuống, nhiệt độ có thể
giảm, hô hấp khó khăn, vận động có thể bị tê liệt và chết.
+ Tác dụng đối với hệ thần kinh: Nước sắc Xuyên
khung cho uống với liều 25-50g/kg có tác dụng trấn tĩnh trên chuột và chuột nhắt.
Thuốc kéo dài tác dụng gây ngủ của chất Barbituric nhưng không ảnh hưởng đến tác
dụng kích thích của Caffein (Chinese Herbal Medicine).
+ Đối với tuần hoàn:
. Theo Thụ Thượng Sư Thọ: tinh dầu của Xuyên
khung có tác dụng làm tê liệt tim, làm cho mạch máu ngoại vi gĩan ra, tăng lưu
lượng máu ở mạch vành, cải thiện tình trạng thiếu Oxy ở tim. Liều cao có thể làm
cho huyết áp hạ xuống (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
. Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao dùng cồn 70
độ và nước chiết hoạt chất trong Xuyên khung chế thành dung dịch 10%, tiêm vào
tĩnh mạch chó, thỏ và mèo đã gây mê thấy huyết áp hạ xuống rõ [Tác giả giải
thích rằng tác dụng này có liên quan đến ảnh hưởng của hệ thần kinh trung ương]
(Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
. Lý Quảng Túy và Kim Âm Xương nghiên cứu 27
loại thuốc YHCT đối với huyết áp (thí nghiệm trên chó và mèo đã gây mê) thấy
rằng Xuyên khung là 1 vị có tác dụng hạ áp rõ và kéo dài dù tiêm mạch máu hoặc
bắp thịt (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Tác dụng đối với tim mạch: Uống nước sắc
Xuyên khung có tác dụng ra mồ hôi nhẹ ở súc vật thí nghiệm nhưng chích tĩnh mạch
hoặc chích bắp thịt lại làm giảm huyết áp nơi súc vật được gây mê. Dịch chiết có
tác dụng mạnh nhất để hạ áp. Thí nghiệm dài ngày trên chó và chuột thấy nước sắc
Xuyên khung với liều 4g/kg mỗi ngày làm tăng huyết áp 20mmHg đối với huyết áp
tăng thể thận nhưng không có tác dụng đối với huyết áp tăng thực thể (Chinese
Herbal Medicine).
+ Đối với mạch ngoại vi và áp huyết: Nước
hoặc cồn ngâm kiệt Xuyên khung và chất Ancaloid chích cho thỏ, mèo và chó được
gây mê đều có tác dụng hạ áp lâu dài. Những thí nghiệm dùng nước ngâm kiệt của
Xuyên khung bơm vào dạ dầy của chó và chuột gây huyết áp cao mạn tính do thận
viêm hoặc huyết áp cao thể Cortison đều có tác dụng hạ áp. Chỉ dùng Xuyên khung
đơn độc không có tác dụng hạ áp rõ nhưng tăng tác dụng hạ áp của Reserpin. Hoạt
chất Xuyên khung còn có tác dụng làm giảm sức cản của huyết áp ngoại vi, tăng
lưu lượng của huyết quản ngoại vi, của động mạch chủ và chân, tăng số hoạt động
mao mạch và tăng tốc độ máu của vi tuần hoàn (Trung Dược Học).
+ Đối với mạch máu ở não: Xuyên khung làm tăng
lưu lượng máu ở não, làm giảm phù não do đó có tác dụng phòng thiếu máu não và
chứng nửa đầu đau, có tác dụng trị chứng tai điếc bột phát do thần kinh, phòng
được sự hình thành máu cục sau khi cấy da (Trung Dược Học).
+ Đối với tim: Trên thực nghiệâm ếch hoặc cóc,
đối với tim cô lập hoặc chỉnh thể với nồng độ thấp thấy có tác dụng hưng phấn,
tim co bóp tăng, nhịp tim chậm lại. Với nồng độ cao có tác dụng ngược lại: ức
chế tim, làm gĩan tim và tim ngừng đập (Trung Dược Học).
+ Đối với tiểu cầu: Xuyên khung có tác dụng ức
chế sự ngưng tập của tiếu cầu và sự hình thành cục máu (Trung Dược Học).
+ Đối với cơ trơn:
. Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao dùng dung
dịch nước của Xuyên khung thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ đã có thai,
thấy bằng với liều nhỏ dung dịch nước Xuyên khung có tác dụng kích thích sự co
bóp của tử cung thỏ có thai, cuối cùng đi đến hiện tượng co quắp, ngược lại nếu
dùng liều lượng lớn, tử cung bị tê liệt và đi đến ngừng co bóp. Tiêm dung dịch
Xuyên khung liên tục 1 thời gian cho thỏ và chuột bạch có thai thì thấy thai
chết trong bụng mà không đẩy ra được (do Xuyên khung gây co bóp tử cung, ảnh
hưởng đến dinh dưỡng của thai làm cho thai chết). Hai tác giả trên nhận định
rằng người xưa dùng Xuyên khung trị sản phụ bị băng huyết là do Xuyên khung có
khả năng làm co tử cung, làm cho mạch máu ở vách tử cung áp chặt vào tử cung gây
ra cầm máu (do Xuyên khung làm gĩan mạch máu nên không cầm máu được). Đối với
ruột cô lập của thỏ và chuột Hà lan cũng có tác dụng tương tự: nếu dùng lượng
nhỏ làm tăng nhu động ruột dần dần mà không có khả năng làm cho ngừng hẳn, còn
nếu dùng liều cao nhu động ruột bị hoàn toàn ngừng hẳn không khôi phục lại được
(Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
. Lượng nhỏ của 10% nước sắc Xuyên khung có tác
dụng điều hòa niêm mạc tử cung thỏ có thai, trong khi đó với liều cao lại làm
ngưng tác dụng co tử cung hoàn toàn. Chích liên tục dịch chiết Xuyên khung cho
thỏ và chuột có thai gây chết thai nhưng không trục thai ra. Liều nhỏ nước sắc
Xuyên khung ức chế nhu động ở tiểu trường thỏ hoặc chuột Hà Lan, Trong khi đó
liều cao lại làm ngừng co bóp (Chinese Herbal Medicine).
. Liều nhỏ dịch ngâm kiệt Xuyên khung có tác
dụng làm tăng co bóp cơ tủ cung cô lập của thỏ có thai, liều cao lại làm tê liệt
cơ. Đối với ruột cô lập của thỏ và chuột Hà Lan cũng có tác dụng tương tự: lượng
nhỏ làm tăng nhu động ruột còn liều cao làm tê liệt. Saponin Xuyên khung, Acid A
ngùy và thành phần Lipid nội sinh trung tính cũng có tác dụng tương tự (Trung
Dược Học).
+ Tác dụng kháng khuẩn: In vitro, Xuyên khung
có tác dụng ức chế nhiều khuẩn gây bệnh như Shigella sonnei, Pseudomonas
aeruginosa, Salmonella thương hàn và phẩy khuẩn tả. In vitro thuốc cũng có tác
dụng ức chế nhiều khuẩn gây bệnh ngoài da (Chinese Herbal Medicine).
+ Tác dụng an thần: dùng nước sắc Xuyên khung
thụt vào bao tử chuột nhắt và chuột cống đều có thể làm cho chuột giảm hoạt
động tự phát, tăng tác dụng gây ngủ của loại thuốc ngủ Natri Bacbital và tác
dụng đối kháng với Cafein hưng phấn trung khu thần kinh (Trung Dược Học).
+ Tác dụng kháng sinh: theo Lưu Quốc Thanh và
Trương Duy Tân thì Xuyên khung có tác dụng kháng sinh đối với nhiều loại vi
trùng như vi trùng thương hàn, vi trùng sinh mủ, thổ tả, Lỵ Sonner... Xuyên
khung cũng có tác dụng chống phóng xạ, kháng khuẩn và chống nấm ngoài da, có tác
dụng trị chứng thiếu vitamin E (Trung Dược Học).
Tính vị:
+ Vị cay, tính ấm (Bản Kinh).
+ "Hoàng Đế, Kỳ Bá, Lôi Công: vị chua, không
độc. Lý Cảo: Tính ôn, nhiệt, hàn" (Ngô Phổ Bản Thảo).
+ Vị đắng, cay (Đường Bản Thảo).
+ Vị cay, hơi ngọt, khí ấm (Bản Thảo Chính).
+ Vị cay, tính ấm (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa
Quốc Dược Điển).
Quy kinh:
+ Vào kinh Can, Đởm (Trung Dược Học).
+ Vào kinh thủ Quyết âm Tâm bào, túc Quyết âm
Can và thủ Thiếu dương Tiểu trường, túc Thiếu dương Đởm (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Vào kinh Can, Tỳ và Tam tiêu (Dược Phẩm Hóa
Nghĩa).
+ Vào kinh Can, Đởm, Tâm bào (Trung Hoa Nhân
Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).
Tham khảo:
+ " Xuyên khung là vị thuốc trị khí trong
huyết. Bệnh Can cấp dùng vị cay để bổ vì vậy chứng huyết hư nên dùng Xuyên khung
.Vị cay tán kết vì vậy các chứng khí trệ cần dùng. Người ta nói rằng vị Mạnh
khúc, Quý cùng (Xuyên khung) chống lại được thấp tà, trị chứng bụng to như bụng
cá, trị tiêu chảy do thấp, mỗi lần chỉ dùng 2 vị, hiệu quả như thần . Chứng
huyết lỵ đau, huyết lỵ đã thông mà đau không giảm là âm thiếu khí uất, thêm
Xuyên khung để hành khí điều huyết thì bệnh khỏi" (Bản Thảo Cương Mục).
+ "Xuyên khung được nhiều người dùng, đầu mặt
đau do phong không thể thiếu nó nhưng cần phối hợp với các loại thuốc khác" (Bản
Thảo Diễn Nghĩa).
+"Xuyên khung vận hành lên đầu mắt, dẫn xuống
huyết hải, vì vậy, bệnh về tinh thần dùng bài Tứ Vật (Xuyên khung, Đương quy,
Bạch thược, Thục địa). Xuyên khung có khả năng tán phong ở kinh Can, dùng trị
chứng đầu đau ở kinh Thiếu dương (Đởm, Tiểu trường) và Quyết âm (Tâm bào, Can),
là thánh dược trị đầu đau do huyết hư. Thường dùng trong 4 trường hợp sau:
1- Dẫn vào kinh Thiếu dương (Tiểu trường, Đởm).
2- Đầu đau do kinh lạc gây nên.
3- Chuyển vận thanh dương và khí.
4- Khứ thấp khí ở đầu" (Bản Thảo Kinh).
+ "Xuyên khung có tác dụng tán kết đi vào kinh
Can, là thuốc trị huyết trong khí... Xuyên khung và Đương quy đều là thuốc trị
về huyết nhưng Xuyên khung hoạt huyết mạnh hơn vì vậy có tác dụng phát tán phong
hàn, trị đầu đau, phá ứ tụ, thông huyết mạch, giảm đau, tiêu phù, trục huyết,
thông kinh. Cùng sắc uống với Tế tân trị ung nhọt" (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ " Đầu đau mà không khỏi, tất yếu phải dùng
Xuyên khung thêm thuốc dẫn kinh: Thái dương thêm Khương hoạt, Dương minh thêm
Bạch chỉ, Thiếu dương thêm Sài hồ, Thái âm thêm Thương truật, Quyết âm thêm Ngô
thù du, Thiếu âm thêm Tế tân" (Dụng Dược Pháp Tượng).
+ Xuyên khung chịu Thư hoàng, được Tế tân có
tác dụng giảm đau, trị mụn nhọt. Được Mẫu lệ có tác dụng trị đầu đau do phong,
nôn nghịch" (Lôi Công Dược Chế).
+ " Xuyên khung dẫn lên đầu mặt, dẫn xuống kinh
thủy, khai uất kết ở trung tiêu, là thuốc trị huyết trong khí. Trị khí huyết đều
tốt. Thuốc có tác dụng tán hàn trừ thấp, trừ phong khí, trị đầu đau, hông sườn
đau, dưỡng thai, giúp ích cho sản phụ, trị được các chứng trưng hà tích tụ,
huyết bế không thông, mụn nhọt lở ngứa, ung thư mụn nhọt] hàn nhiệt, sưng đau"
(Bản Thảo Hối Ngôn)
Xuyên khung, Tác dụng
Xuyên khung, Xuyên khung vị thuốc quí, Xuyên khung và sức khỏe, cách dùng Xuyên khung, mua
Xuyên khung, nơi bán Xuyên khung, mua bán Xuyên khung, giá cả Xuyên khung, công năng Xuyên khung,
nơi mua xuyen khung, xuyen khung, tac dung cua xuyen khung, xuyen khung vi thuoc qui, xuyen khung
và suc khoe, cach dung xuyen khung, mua xuyen khung, noi ban xuyen khung, mua ban
xuyen khung, gia ca xuyen khung, cong nang xuyen khung, nơi mua xuyen khung, xuyenkhung, tac dung
xuyenkhung, baithuoc co xuyenkhung, cach dung xuyenkhung, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: 116B Đà nẵng Quận Ngô quyền - Hải phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP