Tên
khác:
Thiên
môn đông, Thiên đông, Dây tóc tiên
Vị thuốc
Thiên môn còn gọi Điên hách,
Địa môn đông, Duyên môn đông, Quan tùng, Vô bất dũ, , Cán thảo (Bảo Phác Tử),
Tương mỹ, Mãn đông (Nhĩ Nhã), Điên lặc (Bản Kinh), Thiên cức, Bà la thụ, Vạn tuế
đằng (Bản Thảo Cương Mục), Thiên đông, Kim hoa, Thương cức, Thiên văn đông (Hòa
Hán Dược Khảo), Dây tóc tiên (Dược Liệu Việt Nam). dây tóc tiên, thiên môn đông
Tác
dụng: Thiên môn
+ Bảo định
Phế khí, khu hàn nhiệt, dưỡng cơ bì, ích khí lực, lợi tiểu tiện (Biệt Lục).
+ Thông Thận
khí, trừ nhiệt, chỉ tiêu khát, khử nhiệt trúng phong (Dược Tính Bản Thảo).
+ Trấn Tâm,
nhuận ngũ tạng, ích bì phu, bổ ngũ lao, thất thương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
Chủ
trị: Thiên môn
+ Trị hư lao,
người gìa suy nhược, gầy ốm, âm nuy, điếc, mắt mờ (Thiên Kim phương).
+ Trị phế
khí ho nghịch, suyễn, phế nuy sinh ra nôn ra mủ, ghẻ nước (Dược Tính Bản Thảo).
+ Trị ho lao,
lao phổi, ho ra máu, khát nưóc do bệnh ở thượng tiêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Kiêng
kỵ:
+ Phế không
có hư hỏa mà lại có hàn đàm hoặc đàm ẩm: cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Tư âm,
dưỡng huyết, ôn bổ hạ nguyên: Thiên môn bỏ lõi, Sinh địa đều 80g. cho vào bình
bằng gỗ cây Liễu, cho rượu vào rửa. Chưng chín rồi phơi 9 lần, đến lúc thật khô.
Thêm Nhân sâm 40g, tán bột. Lấy 9 quả Táo tầu, bỏ hột, gĩa nát, trộn thuốc bột
làm viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên, với rượu nóng, trước bữa
ăn, ngày 3 lần (Tam Tài Hoàn – Hoạt Pháp Cơ Yếu).
+ Trị cơ thể
đau nhức do hư lao: Thiên môn, tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa với rượu
(Thiên Kim phương).
+ Làm cho
nhan sắc xinh tươi: Thiên môn, Thục địa, Hồ ma nhân, tán nhuyễn, trộn với mật
ong, làm thành viên, to bằng hạt Long nhãn. Mỗi lần uống 20 viên với nước nóng (Trửu
Hậu phương).
+ Trị phế
nuy, ho, khạc nhiều đờm, trong tim nóng, miệng khô, khát nhiều: Thiên môn để
sống, gĩa vắt lấy nước cốt chừng 7 chén, rượu 7 chén, Mạch nha 1 chén, Tử uyển
160g. cho vào bình bằng đồng hoặc nồi bằng sành, nấu đặc thành cao hoặc làm
thành viên. Mỗi lần uống to bằng qủa Táo, ngày 3 lần (Trửu Hậu phườn).
+ Trị tiêu
khát: Thiên môn, Mạch môn, Ngũ vị tử, nấu đặc thành cao, thêm ít Mật ong để dùng
dần (Giản Tiện phương).
+ Trị âm hư
hỏa vượng, có đờm mà không dùng được thuốc táo: Thiên môn 1 cân, rử nước, bỏ lõi,
lấy nguyên nhục khoảng 480g. cho vào cối đá gĩa nát. Lấy Ngũ vị tử, rửa sơ qua,
bỏ hột, chỉ lấy thịt 160g. phơi khô (đừng cho vào lửa). Cả hai thức cùng nghiền
nát, trộn với hồ làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi klần uống 20 viên với
nước trà nóng, ngày 3 lần (Giản Tiện phương).
+ Trị phế
nuy, hư lao, phong nhiệt, trị chứng nóng, khát: Thiên môn, bỏ vỏ, bỏ lõi, nấu
chín, ăn. hoặc phơi khô, tán bột, luyện với mật làm thành viên, to bằng hạt
Ngoốnnng. Mỗi lần uống 20 viên với nước trà. Cũng có thể nấu lấy nước để rửa mặt
(Thực Liệu Bản Thảo).
+ Trị phong,
điên, mỗi khi lên cơn thì nôn mửa, tai ù như ve kêu, đau lan xuống cạnh sườn:
Thiên môn, bỏ lõi, phơi khô, gĩa nát. Mỗi lần dùng 1 thìa với rượu, ngày 3 lần (Ngoại
Đài Bí Yếu).
+ Trị phụ nữ
bị cốt chưng, trong xương nóng, buồn phiền, bứt rứt, mồ hôi trộm, miệng khô,
khát mà không uống được nhiều, suyễn; Thiên môn, Thanh hao, Miết giáp, Mạch môn,
Sài hồ, Ngưu tất, Bạch thược, Địa cốt bì, Ngũ vị tử. Lượng bằng nhau, sắc uống (Hoạt
Pháp Cơ Yếu).
+ Trị miệng
lở lâu ngày không khỏi: Thiên môn (bỏ lõi), Mạch môn (bỏ lõi), Huyền sâm. Lượng
bằng nhau, tán bột, trộn mật làm thành viên, to bằng hạt Long nhãn. Mỗi lần ngậm
1 viên [Bài này do nhà sư Liêu Sở truyền cho] (Ngoại Khoa Tinh Nghĩa).
+ Trị thiên
trụy [sán khí]: Thiên môn 12g, Ô mai 20g, nấu cho kỹ, uống (Hoạt Nhân Tâm Kính
phương).
+ Trị da mặt
nám đen: Thiên môn, phơi khô, gĩa nát, trộn với mật ong làm thành viên. Hằng
ngày, dùng thuốc viên pha với nước để rửa mặt. Dùng thuốc xát vào da cũng sẽ làm
cho da dần dần tươi sáng, xinh tươi (Thánh Tế Tổng Lục).
Tìm
hiểu thêm
Tên
khoa học:
Asparagus
cocjinchinensis (Lour.) Merr - Hành Tỏi (Liliaceae).
Mô
Tả:
Dây leo,
sống lâu năm, dưới đất có rất nhiều rễ củ mẫm hình thoi. Thân mang nhiều cành 3
cạnh, dài nhọn, biến đổi thành lá giả hình lưỡi liềm. Lá thật rất nhỏ, trông như
vẩy. Mùa hạ ở kẽ lá mọc hoa trắng nhỏ. Quả mọng, khi chín màu đỏ (cũng có cây,
quả khi chín màu tím đen).
Mọc hoang và
được trồng ở nhiều nơi.
Thu
hoạch:
Tháng 10 –
12 ở những cây đã mọc trên 2 năm. Đào về, ruẳ sạch, đồ chín, rút lõi, phơi hoặc
sấy khô.
Phần
dùng làm thuốc:
Củ rễ (Radix
Aspargi). Loại béo mập, cứng, mịn, mầu trắng vàng, hơi trong là loại tốt. Củ dài,
gầy, mầu nâu vàng, không sáng là loại vừa.
Mô
tả dược liệu:
Củ hình thoi,
tròn dài, hai đầu nhỏ nhưng tầy, dài 6-20cm. Mầu trắng vàng hoặc nâu, vàng nhạt,
có chất dầu hơi trong. Mặt ngoài có vằn dọc nhỏ hoặc rãnh dọc. Khi khô, chất
cứng nhưng dòn. Chưa khô thì chất mềm, dính, chỗ vết bẻ như chất sáp, mầu trắng
vàng, hơi trong, giữa có nhân trắng, không trong. Vị ngọt, hơi đắng (Dược Tài
Học).
+ Rửa sạch,
bỏ lõi, thái phiến, phwoi khô để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Rửa sạch,
bỏ lõi, ủ mềm, thái phiến, phơi khô (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
Bảo
quản:
Để nơi khô
ráo, dễ ẩm mốc.
Thành
phần hóa học:
+ Yamogenin,
Diosgenin, Sarsasapogenin, Smilagenin, Xylose, Glucose, Rhamnose (Hắc Liễu Chính
Điển, Nhật Bản Dược Học Hợp Quyển 107, Trung Y Trung Dược Thủ Sách 1988, 10 (1):
56).
+ Trong
Thiên môn có acid Amin, chủ yếu là Asparagin, thủy phân trong nước sôi cho
Aspactic acid và Amoniac. Ngoài ra, còn có chất nhầy, tinh bột, Sacarosa (Những
Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
Tác
dụng dược lý:
- Tác dụng
kháng khuẩn: Nước sắc Thiên môn có tác dụng ức chế liên cầu khuẩn A và B, Phế
cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn bạch cầu (Trung Dược Học).
- Tác dụng
chống khối u: Nước sắc Thiên môn có tác dụng ức chế Sacroma –180 và Deoxygenase
của tế bào bạch cầu ở chuột nhắt bị viêm hạch bạch huyết cấp hoặc viêm hạt bạch
huyết mạn (Trung Dược Học).
- Nước sắc
Thiên môn có tác dụng giảm ho, lợi tiểu, thông tiện, cường tráng (Sổ Tay Lâm
Sàng Trung Dược).
Tính
vị:
+ Vị đắng,
tính bình (Bản Kinh).
+ Vị ngọt,
tính rất hàn, không độc (Biệt Lục).
+ Vị ngọt,
đắng, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Quy
kinh:
+ Vào kinh
thủ Thái âm Phế, túc Thiếu âm Thận (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Vào kinh
thủ Thái âm Phế, thủ Thiếu âm Tâm (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Vào kinh
Phế, thận (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Tham
khảo:
+ Sở dĩ nói
Thiên môn nhuận được 5 tạng, kỳ thực nó nhuận được Phế, thì sau đó 5 tạng cũng
được nhuận lây, thế thì Thiên môn cũng là một vị thuốc tốt để nhuận Phế vậy (Hòa
Hán Dược Khảo).
+ Thiên môn
bẩm thụ được khí sơ sinh đại hàn từ buổi bắt đầu mà sinh ra, cho nên nó được khí
thuần âm của đất. Vị của nó tuy hơi đắng nhưng lại ngọt mà hơi cay, chính khí
của nó là đại hàn, không độc, cần được nhiều chất ngọt hơn vì vị của nó hậu hơn
khí, cho nên nó trừ được hư nhiệt của Phế và Thận (Cù Hy Ung).
+ Thiên môn
nhuận táo, giúp ích châ phần âm, thanh được Phế kim, giáng được hỏa tà cm được
hỏa tà (Bản Thảo Cương Mục).
+ Mạch môn
và Thiên môn đều phải bỏ lõi nhưng lấy nước mà sấp dần cho mềm thôi, không nên
ngâm hẳn vào trong nước, mất hết tân dịch của nó đi. Một khi khí vị đã hết, dùng
vào thuốc không thấy công hiệu lại cho rằng tại thuốc, sao không biết rằng tại
mình làm mất hất chất tốt của thuốc đi rồi thì làm sao mà có hiệu quả (Khấu Tông
Thích).
+ Tính của
Thiên môn trị được ho, khí suyễn, suyễn do phế nuy, hoặc phế ung, nôn ra mủ máu.
Tính của nó trừ được nhiệt, phong, trị được ghẻ lở, dùng nó phải uống nhiều,
uống lâu, nấu chín mà ăn, làm cho người ta béo tốt, xinh tươi, trắng trẻo, trừ
được nội tích, các loại khí nóng (Chân Quyền).
+ Sợ cá
Chắm, cá Chầy, cá Chép
+ Thiên môn
có tác dụng thanh kim, giáng hỏa, ích cho Thận, cho nên thông được khí của Thận,
lại tư bổ cho Thận. Chủ của 5 thứ dịch, dịch khô ráo thọnnng lại thành đờm, được
thuốc nhuận thì Phế không bị táo mà đờm tự nhiên tiêu. Vì Mạch môn thanh Tâm để
bảo Phế, Thiên môn giúp thủy để nuôi Phế, một đằng cứu ở trên, một bên giúp ở
dưới nhưng đều bảo hộ cho Phế, nhưng trên dưới, hàn nhiệt khác nhau. Cho nên,
đờm của thấp tôr thì Bán hạ làm chủ, đờm do táo hỏa thì Mạch môn làm chủ. Nếu Tỳ
Vị hư hán mà uống lâu, uống độc vị thì sẽ sinh ra chứng hoạt trường, tiêu chảy
thành cố tật, không trị khỏi (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Thiên môn
mập, nhiều chất béo, khí bạc, vị đậm, ngọt, tính hàn, có tác dụng thanh táo, bổ
ích tân dịch, dưỡng âm, sắc trắng đi vào Phế. Đối với người Phế hư, ho lâu ngày,
ho lao, phổi khô, đuwọc vị thuốc nhu nhuận, tăng nhiều nước dịch, làm cho nước
dịch bị khô chuyển thành mềm nhuận, đó là cách trị bệnh theo chính trị. Chỉ có
trường hợp ho nhiều hoặc Phế có hỏa tà, phần âm chưa hao tổn, tân dịch chua bị
tổn thương mà đã vội dùng Thiên môn thì chỉ làm cho tà khí bị giữ lại (Đông Dược
Học Thiết Yếu).
Thiên môn, Tác dụng
Thiên môn, Thiên môn vị thuốc quí, Thiên môn và sức khỏe, cách dùng Thiên môn, mua
Thiên môn, nơi bán Thiên môn, mua bán Thiên môn, giá cả Thiên môn, công năng Thiên môn,
nơi mua thien mon, thien mon, tac dung cua thien mon, thien mon vi thuoc qui, thien mon
và suc khoe, cach dung thien mon, mua thien mon, noi ban thien mon, mua ban
thien mon, gia ca thien mon, cong nang thien mon, nơi mua thien mon, thienmon, tac dung
thienmon, baithuoc co thienmon, cach dung thienmon, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP