Vị thuốc Thạch cao còn gọi Tế thạch (Biệt Lục), Hàn thủy thạch (Bản Thảo
Cương Mục), Bạch hổ (Dược Phẩm Hóa Nghĩa), Nhuyễn thạch cao (Bản Thảo Diễn Nghĩa
Bổ Di), Ngọc đại thạch (Cam Túc Dược Học), Băng thạch (Thanh Hải Dược Học), Tế
lý thạch, Ngọc linh phiến, Sinh thạch cao, Ổi thạch cao, Thạch cao phấn, Băng
đường chế thạch cao (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tác dụng:
. Giải cơ, phát hãn, chỉ tiêu khát, trừ ngịch (Biệt
Lục).
. Sinh tân, giải có, thanh nhiệt, tri\ừ phiền,
giải khát (Trung Dược Đại Từ Điển).
Liều dùng:
. Uống trong phải dùng Thạch cao sống. Thạch
cao nung chỉ dùng ngoài.
Kiêng kỵ:
+ Dương hư: không dùng (Trung Dược Học).
+ Kỵ Ba đậu, sợ Sắt (Dược Tính Luận).
+ Kê tử làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+ Tỳ vị hư hàn, huyết hư,âm hư phát sốt: không
dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị cốt chưng do lao thương, bệnh lâu ngày,
giống như nhiệt bám vào trong xương mà nung nấu bên trong. Nhưng nên biết rằng
gốc bệnh do trong lục phủ ngũ tạng đã bị tổn thương, nhân gặp thời tiết thay đổi
nên phát bệnh. Ngày càng gầy ốm, ăn uống không có cảm giác, hoặc da khô, không
tươi nhuận, bệnh tình mỗi lúc 1 tăng, chân tay gầy như que củi, rồi lại sinh ra
phù thủng: Thạch cao 10 cân, nghiền nát. Mỗi lần dùng 2 thìa nhỏ hòa với sữa và
nước sôi để nguội mà ăn, ngày ăn 2-3 lần cho đến khi thấy cơ thể mát thì thôi (Ngoại
Đài Bí Yếu).
+ Trị tiểu nhiều làm cho cơ thể gầy ốm: Thạch
cao ½ cân, gĩa nát, sắc với 3 chén nước, còn 2 chén. Chia làm 3 lần uống thì
khỏi (Trửu Hậu phương).
+ Trị vết thương lở loét, không gom miệng,
không ăn da non, ngứa, chảy nước vàng: Hàn thủy thạch nung đỏ 80g, Hoàng đơn
20g. tán bột. Dùng để rắc vào vết thương (Hồng Ngọc Tán - Hòa Tễ Cục phương).
+ Trị thương hàn phát cuồng, trèo lên tường,
leo lên nóc nhà: Hàn thủy thạch 8g, Hoàng liên 4g. Tán bột. Dùng nước sắc Cam
thảo cho kỹ, để ngưội mà uống thuốc bột trên (Bản Sự phương).
+ Trị phong nhiệt, miệng khô, cổ ráo, nói nhảm:
Hàn thủy thạch ½ cân, nung kỹ, để cho nguội. Đào 1 lỗ giống như cái chậu, để
Thạch cao vào đó 1 đêm. Sáng mai lấy ra, thêm Cam thảo và Thiên trúc hoàng, mỗi
thứ 80g, Long não 0,8g. Dùng bột gạo nếp làm hồ, trộn thuốc bột làm viên, to
bằng hạt Long nhãn. Mỗi lần uống 20 viên với nước mật (Tập Nghiệm phương).
+ Trị trẻ nhỏ bị đơn độc, nóng đỏ cả người: Hàn
thủy thạch 40g, tán bột, hòa với nước bôi là khỏi ngay (Tập Huyền phương).
+ Trị trẻ nhỏ cơ thể nóng như than: Thạch cao
40g, Thanh đại 4g. tán bột. Trộn với bột mì hồ làm thành viên, to bằng hạt Nhãn.
Mỗi lần uống 1 viên với nước sắc Đăng tâm (Phổ Tế phương).
+ Trị vì nóng quá gây nên ho, suyễn, phiền
nhiệt: Thạch cao 32g, Chích thảo 20g. tán bột. Mỗi lần uống 12g với nước sắc
Gừng sống pha ít Mật ong (Phổ Tế phương).
+ Trị đờm nhiệt phát ra suyễn, ho, đờm khò khè:
Thạch cao và Hàn thủy thạch, mỗi thứ 20g. tán bột. Mỗi lần dùng 12g uống với
nước sắc Nhân sâm (Bảo Mệnh Tập).
+ Trị trong Vị và Phế có hỏa phục (Bài này có
thể tả hỏa được, nhất là nó có tác dụng tiêu được thực tích và đờm hỏa rất hay):
Thạch cao, nung kỹ, để nguội, dùng chừng 240g, tán bột. Trộn với giấm làm thành
viên, to bằng hạt Ngôoồng lớn. Mỗi lần uống 5 – 10 viên với nước sôi (Đan Khê
Tâm Pháp).
+ Trị răng đau do Vị hỏa quá thịnh: Thạch cao,
thứ mềm 40g, nung kỹ. Đang lúc nóng, dùng rượu nhạt tưới vào, tán bột. Thêm
Phòng phong, Kinh giới, Tế tân, Bạch chỉ mỗi thứ 2g, tán bột, trộn chung. Mỗi
ngày dùng nó sát vào răng, rất hay (Bảo Đào Đường phương).
+ Trị người lớn tuổi bị phong nhiệt, mắt đỏ,
bên trong mắt nóng, đầu đau, nhìn không rõ: Thạch cao 120g, Lá Tre (Trúc diệp)
50 lá, Đường 40g, Gạo nếp 1 chén, nước 5 chén. Trước hết,ấuuu Thạch cao và lá
Tre trước cho thật kỹ, bỏ bã, cho Gạo nếp vào, nấu thành cháo, thêm Đường vào ăn
(Dưỡng Lão phương).
+ Trị đau mắt phong, do phong hàn gây nên:
Thạch cao, nướng kỹ 80g, Xuyên khung 80g, Chích thảo 20g. tán bột. Ngày uống 2
lần, mỗi lần uống 4g với nước sắc Hành và Trà (Tuyên Minh Luận).
+ Trị đầu đau, chảy nước mắt, chảy nước mũi,
có khi đau buốt: Thạch cao, nướng kỹ 80g, Xuyên khung 80g, Chích thảo 20g. tán
bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 4g với nước sắc Hành và Trà (Tuyên Minh Luận).
+ Trị đầu đau mà chảy máu cam, tâm phiền: Thạch
cao, Mẫu lệ đều 40g, tán bột. Mỗi lần uống 12g (Phổ Tế phương).
+ Trị gân xương đau nhức, chân tay mỏi do phong:
Thạch cao 12g, bột mì 28g, tán bột. Hòa với nước làm thành bánh, nướng đỏ, để
nguội, quấy với rượu, uống, rồi trùm chăn kín cho ra mồ hôi. Uống liên tục 3
ngày có thể trừ được gốc bệnh (Bút Phong Tạp Hứng).
+ Trị quáng gà: Thạch cao tán bột. Mỗi lần dùng
4g. dùng gan heo, thái mỏng, trộn với thuốc bột, chưng cách thủy, ăn 1 ngày 1
lần, ít lâu sẽ khỏi (Minh Mục phương).
+ Trị do thấp gây nên nóng nhiều, mồ hôi nhiều,
người không biết cho đó là chứng phiền khát, nhưng không phải: Chỉ nên dùng
Thạch cao, Chích thảo, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống 8g, dùng 1 thìa
nước tương làm thang hoặc hòa vào uống (Bản Thảo Bổ Di).
+ Trị trẻ nhỏ bị thổ tả, sắc mặt vàng do nhiệt
độc gây nên: Thạch cao, Hàn thủy thạch đều 20g, Cam thảo (sống) 10g, tán bột.
Uống 4g với nước sôi để nguội (Ngọc Lộ Tán – Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết).
+ Trị thủy tả, bụng sôi do hỏa thịnh: Thạch cao,
nung kỹ. Dùng gạo nếp lâu năm, nấu thành cơm, nghiên nát, trộn thuốc bột làm
thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Dùng Hoàng đơn bọc ngoài làm áo. Mỗi lần uống
20 viên với nước cơm. Uống không quá 2 lần đã khỏi (Ly Lâu Kỳ phương).
+ Trị phụ nữ đang nuôi con mà sữa không xuống:
Thạch cao 120g, sắc với 3 chén nước, uống. Uống chừng 3 ngày là thông sữa (Tử
Mẫu Bí Lục).
+ Trị phụ nữ vú sưng: Thạch cao nung đỏ, để
nguội, tán bột. Mỗi lần uống 12g với rượu nóng. Nếu chưa say, cho thể uống thêm
ít nữa cho thật say, ngủ dậy lại uống 1 lần nữa (Nhất Túy Cao – Trần Nhật Hoa
Kinh Nghiệm phương).
+ Trị phỏng lửa, dầu: Thạch cao tán bột, rắc
vào (Mai Sư phương).
+ Trị tay bị vết đứt lại bị trúng thấp, vết
thương lở loét không ăn da non hoặc không gom miệng lại: Hàn thủy thạch, nung kỹ
40g, Hoàng đơn 8g. tán bột. Lấy nước sắc Kinh ớiii đặc rửa vết thương rồi rắc
thuốc bột vào. Nếu nặng quá không khỏi được, thêm 4g Long cốt, 4g Hài nhi trà
nữa, rất hay (Tích Đức Đường phương).
+ Trị miệng lở, họng đau, trên hoành cách mô có
phục nhiệt: Hàn thủy thạch, nung kỹ 120g, Chu sa 12g, Não tử ½ chử. Tán bột. Rắc
vào vết thương (Tam Nhân phương).
+ Trị nhọt đơn độc thời kỳ sưng tấy [có kết quả,
đã có mủ thì không dùng]: Bột Thạch cao sống 3 phần, dầu Trấu 1 phần, trộn thành
hồ đắp ngoài (Trương Huệ Hàng, Trung Hoa Ngoại Khoa Tạp Chí 1960, 4: 366).
+ Trị đại trường viêm loét mạn: Thạch cao hợp
tễ (Thạch cao bột 100g, thêm Vân Nam Bạch Dược 2g, Novocain 2% 20ml, thêm nước
sôi ấm 250ml, thụt lưu đại trường. Một liệu trình 7-0 ngày. Trị 100 ca, kết quả
97% (Đường Đức triết, Tứ Xuyên Trung Y Tạp Chí 1988, 4: 43).
+ Trị phỏng: Dùng bột Thạch cao cho vào bao,
bóp rắc đều lên vùng phỏng. Kết quả khỏi 51/53 ca (Phúc Kiến Trung Y Dược Tạp
Chí 1960, 6: 21).
Tên khoa học:
Gypsum.
Sơ chế:
Sau khi đào lên, bỏ sạch đất, đá và tạp chất là
dùng được. Khi dùng làm thuốc phải đập vụn và sắc trước 20 phút.
Mô tả dược liệu:
Thạch cao là khối tinh thể hình khối dài hoặc
hình sợi. Toàn thể mầu trắng, thường dính tạp chất hình lát mầu tro hoặc mầu
vàng tro.nặng, xópp, dễ tách thành miếng nhỏ. Mặt cắt dọc có vằn như sợi, bóng
trơn như sợi tơ. Không mùi, vị nhạt (Dược Tài Học).
Trung Quốc, Lào có nhiều.
Bảo quản:
Để nơi khô ráo.
Thành phần hóa học:
+ (CaSO4 . 2H2O), CaO 32.57%, SO3 46,50%, H2O
20,93%, Fe2+, Mag2+, Thạch cao nung chỉ có CaSO4 (Trung Quốc Y Học Khoa Học Viện
Dược Vật Nghiên Cứu Sở, Trung Dược Chí Q. 1, 1961: 223).
+ Calcium sulfate (Trung Dược Học).
Tác dụng dược lý:
+ Tác dụng giải nhiệt:
. Nghiên cứu thực nghiệm trên súc vật cho thấy
có tác dụng ức chế trung khu sản sinh ra nhiệt. Có thể Thạch cao có khả năng ức
chế trung khu ra mồ hôi, vì vậy Thạch cao làm giải nhiệt mà không ra mồ hôi, tác
dụng hạ nhiệt kéo dài (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
. Sắc Thạch cao đổ vào dạ dầy hoặc ruột chó và
thỏ thấy có tác dụng giải nhiệt (Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1958, (3):
33).
+ Tác dụng an thần: Thạch cao có Calci có tác
dụng ức chế thần kinh cơ bắp, đối với sốt cao co giật, có tác dụng nhất định (Trung
Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
+ Tác dụng tiêu viêm: Do chất Calci làm giảm
tính thấm thấu của mạch máu (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
+ Độc tính: Dịch sắc Thạch cao sống chích vào
động mạch chuột nhắt, liều gây độc LD50 là 14,70g/Kg (Khâu Vượng, Trung Quốc
trung Dược tạp Chí 1989, 14 (2): 42).
Tính vị:
+ Vị cay, tính hơi hàn (Bản Kinh).
+ Vị ngọt, tính rất hàn, không độc (Bản Kinh).
+ Vị nhạt, tính hàn (Y Học Khải Nguyên).
+ Vị cay, ngọt, tính hàn (Trung Dược Đại Từ
Điển).
Quy kinh:
. Vào kinh thủ Thái âm Phế, thủ Thiéeu âm Tâm,
túc Dương minh Vị (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Vào kinh Dương minh, thủ Thái âm Phế, thủ
Thiếu dương Tam tiêu (Bản Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di).
+ Vào kinh phế, Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
Tham khảo:
+ Thạch cao tính trầm, âm giáng, khắc nghiệt mà
không sinh trưởng. Khi dùng phải có lý do thích hợp, không nên dùng bữa bãi theo
ý mình đến nỗi tổn hại đến căn bản của sinh mệnh. Ông Trương Khiết Cổ nói rằng
Thạch cao có thể làm cho dạ dầy lạnh mà không ăn được. Phàm không có chứng trạng
cực nhiệt thì không nên dùng. Bệnh huyết hư phát sốt giống chứng Bạch Hổ Thang
mà dùng lầm thì không cứu được. Họ Phi nói: lời của Tôn Triệu nói tháng tư âm
kịch trở đi là mùa nóng nực, nên dùng bài Bạch Hổ thang, nhưng khí hậu 4 phương
sớm muộn không đều, rét, nắng, lạnh, nóng khí trời khác nhau, cũng nên xét kỹ.
Lý Đông Viên nói: trước tiết Lập hạ mà uống nhiều Bạch Hổ Thang nhất định sẽ
sinh ra chứng tiểu không cầm được, vì tân dịch của Dương minh không thể đưa lên,
thanh khí của Phế lại giáng xuống, xem đó thì biết tính của Thạch cao (Dược
Phẩm Vậng Yếu).
+ Thạch cao và Cát căn đều là các vị thuốc giải
được các chứng bệnh thuộc về Dương minh. Nhưng Cát căn làm mở phần da lông, trừ
được khí lạnh ở kinh Dương minh, còn Thạch cao thì làm cho mát để giải bớt khí
nóng ở kinh Dương minh. Vì vậy, sốt mà phải đắp chăn, sợ lạnh là do khí lạnh ở
phần biểu, nhiệt bị kết lại trong Vị, nên dùng ngay Cát căn để khơi trống lớp da
ở ngoài ra thì khí lạnh có chỗ thoát, nhiệt cũng có lối tan đi. Nếu chỉ thấy cơ
thể nóng mà không đắp chăn, chỉ khát nước, nhiều mồ hôi, miệng khô, họng khô,
không thở được thì dùng ngay Thạch cao là đúng phép. Nước ta thuộc vùng nhiệt
đới, khí hậu nóng nực, nhất là khoảng tháng 3, tháng 4, khí trời nóng quá,
người ta hít phải khí nóng làm cho Phế và Vị càng nóng lên, cho nên Thạch cao về
mùa đó cần dùng. có người sợ Thạch cao lạnh quá không dám dùng, thế thì không
biết rằng công dụng của nó hay chữa được chứng buồn phiền, nóng nực hay sao?
(Kim Chỉ Nam Dược Tính).
+ Thạch cao vị ngọt, tính hàn, trừ được hỏa ở
dương minh, lại giải nhiệt cho da thịt. Mầu trắng của Thạch cao nhập vào Phế,
chất nặng mà chứa mỡ, có tác dụng lấy Kim sinh Thủy (Thiên Gia Diệu phương).
Thạch cao, Tác dụng
Thạch cao, Thạch cao vị thuốc quí, Thạch cao và sức khỏe, cách dùng Thạch cao, mua
Thạch cao, nơi bán Thạch cao, mua bán Thạch cao, giá cả Thạch cao, công năng Thạch cao,
nơi mua thachcao, thachcao, tac dung cua thachcao, thachcao vi thuoc qui, thachcao
và suc khoe, cach dung thachcao, mua thachcao, noi ban thachcao, mua ban
thachcao, gia ca thachcao, cong nang thachcao, nơi mua thachcao, thach cao, tac dung
thach cao, baithuoc co thach cao, cach dung thach cao, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP