Mô tả:
Cây nhỡ hay cây gỗ nhỏ, cao tới 10m. Vỏ thân màu nâu. Lá
mang 7-15 lá chét không lông, hình bầu dục thon, dài 5-10cm,
rộng 1,5-3,5cm, gốc không cân, mặt dưới tái. Chuỳ hoa ngắn
hơn lá; cánh hoa 5, dài bằng 2-3 lần đài, nhị 5, có chỉ nhị
dài bằng cánh. Quả hạch cứng, dẹp dẹp, màu vàng nhạt, đường
kính 6-8mm.
Hoa tháng
7, quả tháng 11.
Bộ phận
dùng:
Rễ, lá, vỏ, quả - Radix, Folium, Cortex et Fructus Rhi
Succedaneae.
Nơi
sống và thu hái:
Loài phân bố ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam,
Malaixia. Ở nước ta, cây mọc hoang từ Hoà Bình, Quảng Ninh
đến tận Lâm Đồng và được trồng nhiều ở Phú Thọ và trên các
đồi Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Thái, Hoà Bình để trích lấy
sơn. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm. Ta thường
dùng Sơn khô (Can tất) đốt cháy hay tẩm sơn ướt vào giấy đậy
sải Sơn đem đốt rồi tán bột. Ít khi dùng sơn tươi vì gây tổn
thương tràng vị.
Thành phần
hoá học: Nhựa Sơn chứa acid palmitic, acid oleic, glycerid,
rhoifolin, firetin, fustin; trong nhựa của Sơn có chất
laccol tương đồng với urushiol. Lá chứa tanin và một
glocusid apigenin.
Tính vị,
tác dụng:
Vị đắng, chát, tính bình, có ít độc; có tác dụng bình suyễn,
giải độc, tán ứ tiêu thũng, chỉ thống, chỉ huyết. Dịch lá và
nhựa đều có tính làm rộp da, gây dị ứng làm cho da mặt đỏ
bừng, ngứa gãi và sưng húp dẫn đến lở loét. Sơn khô có vị
cay, hơi mặn, tính ấm; có tác dụng làm tan máu ứ, tiêu tích
báng, thông kinh nguyệt, trừ giun đũa.
Công
dụng:
Ở Trung Quốc được dùng trị hen khan (háo suyễn), cảm, viêm
gan mạn tính, đau dạ dày, đòn ngã tổn thương, và dùng ngoài
trị gãy xương, các vết thương chảy máu.
Ở Ấn Độ,
người ta dùng quả trị lao phổi.
Ta thường
lấy Sơn khô (Can tất) làm thuốc chữa phụ nữ kinh bế đau
bụng, chữa kinh bế, có báng máu đau nhức và trị đau bụng
giun. Liều dùng 1-4g, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị
thuốc khác.
Đơn
thuốc:
1. Chữa
phụ nữ kinh bế đau bụng: Sơn khô đốt ra tro, tán nhỏ, uống
mỗi lần 8g với rượu (Nam dược thần hiệu).
2. Chữa
kinh bế, có báng máu đau nhức, đau cả tâm vị hoặc các loại
tích tụ u hòn: Sơn khô, Nghệ vàng, Nghệ đen, Hương phụ (chế
với giấm) liều lượng bằng nhau, tán nhỏ làm viên hoàn bằng
hạt đậu, uống mỗi lần 50 viên với rượu (Nam dược thần hiệu).
3. Chữa
bụng đau nhói lên tim, do giun sán quấy, miệng chảy nước rãi
trong: Sơn khô đốt cháy, tán nhỏ làm viên bằng hạt đậu xanh,
uống mỗi lần 10 viên, ngày uống 3 lần (Nam dược thần hiệu).
Ghi
chú:
Khi tiếp xúc với Sơn, để đề phòng sưng lở, người ta thường
đốt 1 mảnh giấy Sơn tán nhỏ hoà với nước uống. Còn khi bị
Sơn ăn sưng ngứa, thì dùng lá Rau dền, lá Khế hay quả Khế
giã nhỏ xát và đắp, hoặc nấu lá cây Ghẻ - Glochidion
eriocarpum xông và rửa. Người ta thường dùng vỏ Núc nác
nấu thành cao dùng uống trong và bôi ở ngoài.
Sơn
, vị thuốc Sơn
, Tác dụng của Sơn
, thành phần của Sơn
, cách dùng Sơn
, liều dùng Sơn
, công dụng Sơn
, Tác dụng Sơn
, cách sử dụng Sơn
, Sơn
và sức khỏe, Nơi mua Sơn
, mua bán Sơn
, giá mua Sơn
, cây Sơn
, thuốc Sơn
, quả Sơn
, lá Sơn
, rễ Sơn
, hoa Sơn
, Sơn
chữa bệnh, Sơn
chữa bệnh gì?
son
, tac dung son
, thanh phan son
, cach dung son
, cong dung son
, son
va suc khoe, noi mua son
, mua ban son
, gia mua son
, vi thuoc son
, cay son
, thuoc son
, quả son
, lá son
, rễ son
, hoa son
, son
chua benh, son
chua benh gi?
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP