Vị thuốc Mộc
hương còn gọi Ngũ Mộc hương (Đồ
Kinh), Nam mộc hương (Bản Thảo Cương Mục), Tây mộc hương, Bắc mộc hương, Thổ mộc
hương, Thanh mộc hương, Ngũ hương, Nhất căn thảo, Đại thông lục, Mộc hương thần
(Hòa Hán Dược Khảo), Quảng Mộc hương, Vân mộc hương, Xuyên mộc hương, Ổi mộc
hương (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Tác
dụng: mộc
hương
+ Trừ độc dịch,
trị tà khí (Bản kinh).
+ Tả lãnh khí ủng
trệ ở vùng ngực (Bản Thảo Diễn Nghĩa).
+ Tán trệ khí,
điều chư khí, hòa vị khí, tả phế khí (Trân Châu Nang).
+ Hành Can kinh (Bản
Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di).
+ Hành khí, chỉ
thống, điều khí trệ ở trường vị, kiện tỳ, ngừa trệ (Trung Dược Học).
+ Hành khí, chỉ
thống, ôn trung, hòa vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Kiện vị, điều
hòa khí, giải hàn, chỉ thống (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Hành khí, chỉ
thống, kiện vị (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Chủ
trị: mộc
hương
+ Trị ngực bụng
đầy trướng, bụng đau, nôn mửa, tiêu chảy, lỵ, đau do sán khí, phù thũng (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
+ Âm hư, táo
nhiệt: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Kiêng
kỵ:
+ Vì Mộc hương vị
cay thơm, có tác dụng tiết khí, vì vậy, người khỏe mạnh nếu uống dài ngày sẽ
không thích hợp (Dược Phẩm Vậng Yếu).
Mộc hương dùng
chung với Hoàng liên để trị chứng lỵ độc. Mộc hương nướng lên dùng thì có tác
dụng sáp trường. Làm sứ cho Binh lang thì phá khí; Làm tá cho Khương, Quế thì
điều hòa Vị; Gặp Thảo quả, thương truật thì trị ôn ngược, chướng ngược; Dùng
Binh lang làm tá thì có tác dụng tiêu nhọt độc, sán khí thể hàn, đau trong bàng
quang; Có Sinh khương, Nhục đậu khấu làm tá thì công hiệu càng nhanh; Dùng Hoàng
lien kềm chế Mộc hương thì tác dụng khơi thông không mạnh lắm; Dùng Hoàng bá,
Tri mẫu ức chế Mộc hương thì đưa lên không nhiều (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Mộc hương là vị
thuốc số 1 của phần khí Tam tiêu. Khí và vị của nó thuần dương, cho nên trừ được
tà, giảm đau. Vì tiêu chảy và thức ăn ngưng động là bệnh của Tỳ. tỳ thổ thích ôn
táo mà gặp được Mộc hương thì hiệu nghiệm ngay. Khí uất, khí nghịch là bệnh của
Can, gặp được Mộc hương khơi thông thì bình an ngay. Khi có thai, nên dùng phép
thuận khí, gặp được Mộc hương thì thai yên (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Âm hư: không
dùng (Trung Dược Học).
+ Âm hư, tân dịch
bất túc: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Chân khí suy
yếu, có nhiệt, huyết hư mà táo: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Liều
dùng: 2 - 12g.
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị trúng ác
khí bất tỉnh, mắt nhắm, cấm khẩu, giống như trúng phong: Một hương, tán bột. Hạt
Bí đao nấu lấy nước, hòa Mộc hương cho uống (Tế Sinh Phương).
+ Trị đầy hơi,
không muốn ăn uống: Thanh mộc hương, tán bột cho uống. Nếu nhiệt, uống với sữa
bò, nếu hàn uống với rượu (Thánh Huệ Phương).
+ Trị khí đau xóc:
Mộc hương 40g, Tạo giáp (nướng kỹ) 40g. Tán bột. Trộn với hồ làm viên, to bằng
hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 50 viên với nước sôi (Giản Tiện Phương).
+ Trị khí đau xóc:
Mộc hương, Diên hồ sách, tán bột Trộn với hồ làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn.
Mỗi lần uống 50 viên với nước sôi (Giản Tiện Phương).
+ Trị khí đau xóc:
Mộc hương, mài với nước sôi, thêm ít nước, uống (Giản Tiện Phương).
+ Trị sán khí:
Mộc hương 160g. nấu với rượu uống, mỗi ngày 3 lần (Tôn Thiên Nhân Tập Hiệu
Phương).
+ Trị nội điếu,
ruột đau thắt: Mộc hương, Nhũ hương, Một dược nấu lấy nước uống (Nguyên Thị Tiểu
Nhi Phương).
+ Trị khí trệ,
lưng đau: Mộc hương, Nhũ hương mỗi thứ 8g, ngâm vào trong rượu, hấp trong nồi
cơm cho sôi, uống (Thánh Huệ Phương).
+ Trị tai bỗng
nhiên ù, điếc: Mộc hương 40g, ngâm giấm 1 đêm, rồi cho vào ít dầu Mè, đun sôi 3
lần. Dùng bông gòn lọc bỏ bã. mỗi ngày nhỏ vào tai 2 – 3 giọt (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị trong tai
đau: Mộc hương, tán bột, lấy củ Hành nhúng vào mỡ ngan rồi chấm vào thuốc bột,
nhét vào trong lỗ tai (Thánh Tế Tổng Lục).
+ Trị lỵ: Mộc
hương 1 tấc, Hoàng liên 20g. Nấu với nước cho cạn, bỏ hoàng liên đi, chỉ lấy Mộc
hương, thái mỏng, bồi khô, tán bột. Chia làm 3 lần uống. Lần thứ nhất uống với
nước sắc Trần bì, lần thứ 2 uống với nước sắc Trần mễ, lần thứ 3 uống với nước
sắc Cam thảo. Bài này do ông Lý Cảnh Thuần truyền cho. Ngày trước có người phụ
nữ bị lỵ lâu ngày, gần chết. Trong lúc ngủ mơ thấy Phật Bà Quan Âm dậy cho bài
thuốc trên, rồi uống và khỏi (Tôn Triệu Bí Bảo Phương).
+ Trị trường
phong hạ huyết: Mộc hương, Hoàng liên, 2 thứ bằng nhau, tán bột, cho vào trong
ruột gìa của heo, buộc chặt 2 đầu, nấu cho nhừ, bỏ thuốc đi, chỉ ăn ruột. Hoặc
để chung, tán nhuyễn, làm thành viên, uống (Liên Tùng Thạch Bảo Thọ Thư Phương).
+ Trị tiểu đục
như nước gạo: Mộc hương, Một dược, Đương quy, lượng bằng nhau. Tán bột. Làm viên
to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 30 viên với nước muối (Phổ Tế Phương).
+ Trị hôi nách
hoặc chỗ kín bị ẩm ướt, lở loét: Mộc hương, ngâm giấm. Tán bột. Xtá vào vết
thương (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị bụng đầy,
bụng đau do hàn thấp trở trệ ở trường vị: Mộc hương, Bạch đậu khấu, Đàn hương,
Cam thảo đều 4g, Hoắc hương 12g, Đinh hương 2g, Sa nhân 6g. Sắc uống (Mộc Hương
Điều Khí Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị ruột viêm
cấp, lỵ, bụng đau, bụng đầy trướng: Mộc hương 4g, Hoàng liên 8g, sắc uống (Hương
Liên Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị bụng đầy,
táo bón, lỵ, ruột viêm cấp, bụng đau do khí trệ: Mộc hương 4g, Ngô thù 4g, Binh
lang, Hương phụ, Đại hoàng, Khiên ngưu, Mang tiêu (để riêng) đều 12g, Thanh bì,
Trần bì, Chỉ xác, Nga truật, Tam lăng đều 8g, sắc uống (Mộc Hương Binh Lang Hoàn
- Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị tiêu hóa
rối loạn, ruột viêm cấp, dạ dầy viêm mạn: Mã Văn Quang dùng dịch Mộc hương 100%
chích bắp 2ml/lần, ngày 2 lần, trị 29 cas, kết quả 93% (Thông Tin Trung Thảo
Dược 1979, 3: 37).
+ Trị cơn đau
thắt túi mật: Hoàng Dục Quang dùng Mộc hương trị 8 cas, kết quả tốt (Trung Hoa
Ngoại Khoa Tạp Chí 1958, 1: 24).
Tên
khoa học:
Saussurea lappa
Clarke.-Họ Cúc (Compositae).
Mô
Tả:
Cây sống lâu năm,
rễ to, đường kính có thể đến 5cm, vỏ ngoài mầu nâu nhạt. Phía gốc có lá hình 3
cạnh tròn, dài 12 – 30cm, rộng 6 – 15cm, cuống dài 20 – 30cm, có rìa. Mép lá
nguyên và hơi lượn sóng, 2 mặt đều có lông, mặt dưới nhiều hơn. Trên thân cũng
có lá hình 3 cạnh, nhưng càng lên trên lá càng nhỏ dần. Mép có răng cưa, cuống
lá càng lên cao càng ngắn lại, phía trên cùng lá gần như không cuống hoặc có khi
như ôm lấy thân cây. Hoa hình đầu, mầu lam tím. Quả bế, hơi dẹt và cong, mầu nâu
nhạt, có những đốm mầu tím.
Mùa hoa vào các
tháng 7-9. Mùa quả tháng 8 – 10.
Đa số trồng ở Vân
Nam (Trung Quốc – Vì vậy mới gọi là Vân Mộc hương).
Thu
hái, Sơ chế:
Về mùa đông, sau
khi đào lên, rửa sạch đất, rễ tơ và thân lá, cắt thành những khúc ngắn 6,6 –
13,3cm. Loại thô to, rỗng ruột thì chẻ dọc thành 2-4 miếng, phơi khô, bỏ vỏ
ngoài là được.
Bộ
phận dùng:
Rễ khô. Loại cứng
chắc, mùi thơm nồng, nhiều dầu là tốt. Loại hơi xốp, ít mùi thơm, ít dầu là loại
vừa.
Mô
tả dược liệu:
Mộc hương hình
trụ tròn, hình giống xương khô, dài 5 – 11cm, đường kính 1,6 – 3,3cm. Mặt ngoài
mầu vàng nâu, nâu tro, có vằn nhẵn và rãnh dọc rõ rệt, đồng thời có vết của rễ
cạnh. Chất chắc, khó bẻ gẫy, vết bẻ không phẳng. Chung quanh méo. Ở giữa mầu
trắng tro hoặc mầu vàng. Còn phần khác mầu nâu tro, nâu tối, có tâm hình hoa cúc.
Cả thân rễ có thể nhìn thấy điểm dầu mầu nâu phân tán. Có mùi thơm đặc biệt, vị
đắng.
Có
nhiều loại mộc hương:
1- Vân Mộc Hương
hoặc Quảng Mộc Hương: tên khoa học: Saussurea lappa Clarke. Thuộc họ Cúc (Asteraceae).
Cây thảo, lá phía gốc hình 3 cạnh tròn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, 2 mặt đều
có lông, mặt dưới nhiều hơn. Lá phía thân cũng hình 3 cạnh, càng lên cao lá càng
nhỏ, mép có răng cưa. Cụm hoa hình đầu, màu lam tím. Quả bế.
2- Thổ Mộc Hương
hoặc Hoàng Hoa Thái, tên khoa học: Inula helenium L. thuộc họ Cúc (Asteraceae).
Cây thảo. Lá phía gốc to, lá phía thân nhỏ hơn, mọc so le. Mép lá có răng cưa
không đều. Cụm hoa hình đầu, màu vàng. Quả bế.
3- Xuyên Mộc
Hương hoặc Thiết Bản Mộc Hương, tên khoa học Jurinea aff souliei Franch. Thuộc
họ Cúc (Asteraceae). Cây thảo. Mép lá chia thùy. Mặt trên có lông thưa, mặt dưới
có lông nhung trắng. Cụm hoa hình đầu. Quả dẹt.
Ngoài ra, trong
nhân dân còn dùng với tên Mộc hương nam cây Aristolochia balansae Franch. Thuộc
họ Mộc hương (Aristolochiaceae). Cây bụi, cành đen. Lá nhẵn hình trái xoan dài.
Hoa màu đỏ. Quả nang.
Có nơi còn gọi vỏ
cây Tai Nghé (Hymenodictyon excelsum (Roxb) Wall var. veluttinum Pierre, họ Cà
phê (Rubiaceae) là vỏ Rụt, cần chú ý tránh nhầm lẫn. Loại cây này cao 7-8m, lá
rộng 8-13cm, 2 mặt lá đều có lông. Hoaậppp trung thành bông dài, quả nang.
Bào
chế:
mộc
hương
+ Dùng để điều
khí thì dùng sống. Nếu muốn cho ruột sáp lại thì bọc bột, nướng chín dùng (Bản
Thảo Cương Mục).
+ Lấy rễ ngâm
nước, vớt ra, trên ủ vải ướt. Khi nước ngấm vào mềm đều, thái phiến, phơi khô,
dùng sống hoặc trộn với bột mì bọc lại, đem nướng lên dùng (Đông Dược Học Thiết
Yếu).
+ Rửa sạch, phơi
trong râm cho khô. Thái mỏng, tán bột. Khi dùng, cho vào nước thuốc đã sắc xong
rồi, quấy đều, uống. Hoặc mài với nước thuốc thang đã sắc rồi, uống (Phương Pháp
Bào Chế Đông Dược).
Bảo
quản:
Dễ mốc mọt. Cần
để nơi khô ráo, kín. Kỵ nóng. Không nên phơi nhiều làm mất mùi thơm.
Thành
phần hóa học:
+ Trong tinh dầu
có Aplotaxene, a Ionone, b Seline, Saussurea lactone, Costunolide, Costic acid,
a Costene, Costuslacone, Camphene, Phellandrene, Dehydrocostuslactone,
Stigmasterol, Betulin (Trung Dược Học).
+ Trong Vân và
Quảng Mộc hương có chừng 1 – 2,8% tinh dầu, 6% chất nhựa Sausurin và chừng 18%
chất Inulin. Thành phần chủ yếu trong tinh dầu là Aplotaxen C17H28 và b Costen
C15H24 chất Costuslacton C15H20O2, chất Dihydrocostus lacton C15H22O2, acid đặc
biệt của Vân Mộc hương là Costus aid C15H22O3, rượu Costola C15H24O, một ít
Camphen và Phelandren (Những Cây thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Trên thực
nghiệm Mộc hương có tác dụng chống co thắt cơ ruột, trực tiếp làm giảm nhu động
ruột. Thuốc có tác dụng kháng Histamin và Acetylcholin, chống co thắt phế quản,
trực tiếp làm gĩan cơ trơn của phế quản (Trung Dược Học).
+ Nồng độ tinh
dầu 1:3000 có tác dụng ức chế liên cầu khuẩn, tụ cầu vàng (Trung Dược Học).
Tính
vị:
+ Vị cay, tính ôn
(Bản Kinh).
+ Vị cay đắng,
tính nhiệt, không độc (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Vị chua, đắng,
tính ấm (Trung Dược Học).
+ Vị cay, đắng,
tính ôn (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vị cay, đắng,
tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Vị cay, đắng,
tính ôn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Quy
kinh:
+ Vào kinh Tâm,
Phế, Can, Vị, Tỳ, Bàng quang (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
+ Vào kinh Can,
Tỳ (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Vào kinh Tỳ, Vị,
Đại Trường, Đởm (Trung Dược Học).
+ Vào kinh Phế,
Can và Tỳ (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vào kinh Phế,
Can và Tỳ (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Vào kinh Can,
Tỳ, Vị, Đại trường (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
+ Mộc hương gặp
được Thảo quả, Thương truật thì trừ được chứng ôn dịch, trướng ngược. Gặp được
hoàng liên giúp sức thì trị được xích bạch lỵ. Mộc hương tính nó chuyên thông
Phế khí, đờm nghẽn ở ngực (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Ông Chu Đan Khê
nói rằng Mộc hương có tính cách hành Can khí. Vì vị của nó đắng nên dễ vào tâm,
nhờ vị cay nên dễ vào Phế, làm cho Tâm Phế điều hòa, ức chế được hảo củaCan, cho
nên không lo hỏa bốc lên chứ không phải là Can khí tự hành vậy (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).
+ Khí vị của Mộc
hương đều đậm, có thể tuyên thông và sơ tán được những gì ngưng tụ và trở trệ ở
thượng tiêu và hạ tiêu. Trong bài thuốc có Mộc hương, khi sắc lên mùi thơm bay
khắp nhà. Công dụng của Mộc hương trị về khí, có thể thăng hoặc giáng. Nếu dùng
vào thuốc bổ dưỡng thì có tác dụng sơ thông được khí để tránh không cho chất béo
nhờn ngưng trệ, sít lai khiến cho thuốc không có tác dụng tốt. Vì vậy, trong bài
Quy Tỳ Thang có vị Mộc hương. Nếu dùng vào thuốc khổ hàn thì Mộc hương có thể
điều hòa, thông sướng được khí cơ, vì vậy, bài Hương Liên Hoàn dùng vị Mộc hương
là theo ý đó (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Mộc hương nhập
từ Quảng Đông là tốt, gọi là Quảng Mộc hương, mùi thơm, không gắt. Trồng ở Tứ
Xuyên gọi là Xuyên Mộc hương, cũng giống như loại nhập từ Quảng Đông, nhưng mùi
không thơm, vị không đậm. Có người gọi rễ cây Mã đâu linh là Thanh Mộc hương.
Trồng ở những nơi khác, gọi là Thổ mộc hương, chẳng những không điều hòa được
khí, trái lại còn làm hao tổn chân khí và trợ hỏa (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Thường dùng vỏ
Mộc hương nam còn gọi là vỏ Rụt (Ilexgodajam Colebr. ex Wall), họ Nhựa Ruồi (Iliaceae)
để thay thế Mộc hương (Dược Liệu Việt Nam
Mộc hương, Tác dụng
Mộc hương, Mộc hương vị thuốc quí, Mộc hương và sức khỏe, cách dùng Mộc hương, mua
Mộc hương, nơi bán Mộc hương, mua bán Mộc hương, giá cả Mộc hương, công năng Mộc hương,
nơi mua moc huong, moc huong, tac dung cua moc huong, moc huong vi thuoc qui, moc huong
và suc khoe, cach dung moc huong, mua moc huong, noi ban moc huong, mua ban
moc huong, gia ca moc huong, cong nang moc huong, nơi mua moc huong, mochuong, tac dung
mochuong, baithuoc co mochuong, cach dung mochuong, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP