Long đởm thảo, Lăng Du (Bản Kinh), Thảo Long Đởm,
Sơn Lương Đởm (Tục Danh), Đởm Thảo, Khổ Đởm, Quan Âm Thảo, Tà Chi Đại Phu, Tà
Chi Đại Sĩ (Hòa Hán Dược Khảo), Trì Long Đởm (Nhật Bản).
Tác dụng:
+Tả Can hỏa, thanh thấp nhiệt (Trung Quốc Dược
Học Đại Tự Điển).
+Thấm thấp nhiệt ở kinh Can, Đởm, tả thực hỏa ở
Can (Trung Dược Học).
+Tả thực hỏa ở Can, Đởm, thanh thấp nhiệt ở hạ
tiêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Chủ
trị:
Trị các chứng thực hỏa ở Can như mắt sưng đỏ đau,
họng đau, sườn đau, miệng đắng, kinh giản do nhiệt tà ở Can Đởm bốc lên, trẻ nhỏ
bị cam tích phát nhiệt, thấp nhiệt ở hạ tiêu làm cho bộ phận sinh dục nóng,
ngứa.
Kiêng kỵ:
+Tỳ Vị hư, tiêu chảy: không dùng (Trung Dược
Học).
+Tỳ Vị hư hàn, tiêu chảy, không có thực hỏa:
không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Liều dùng: 4-12g.
Đơn thuốc kinh
nghiệm:
+Trị trẻ nhỏ bị kinh giản nhập tâm, sốt cao, nóng
trong xương, sốt theo mùa, miệmg lở: Long đởm thảo, Bạch thược, Cam thảo, Phục
thần, Mạch môn, Mộc thông, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
+Trị chứng cốc đản: Long đởm thảo, Khổ sâm, Ngưu
đởm, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
+Trị thấp nhiệt làm tổn thương phần huyết, vào
đại trường gây ra đi tiêu ra máu: uống nhiều Long đởm thảo sẽkhỏi (Trung Quốc
Dược Học Đại Tự Điển).
+Trị dạ dày đau, ăn uống khó tiêu, bụng đầy: Long
đởm thảo 0,5g, Hoàng bá 0,5g, Sinh khương 0,3g, Quế chi 0,3g, Hồi hương 0,3g, Kê
nội kim 0,5g, Sơn tra (sao cháy) 1g. Tán bột, trộn đều, chia làm 3 lần uống
trong ngày (Dược Liệu Việt Nam).
+ Trị Can Đởm có thực hỏa, mắt đỏ, mắt sưng đau,
miệng đắng, tai ù, hông sường đau, gân yếu, sốt cao co giật, thận viêm cấp, bàng
quang viêm cấp, túi mật viêm cấp do Can Đởm có thấp nhiệt: Long đởm thảo, Hoàng
cầm, Chi tử, Trạch tả, Mộc hương, Xa tiền tử, Đương quy đều 12g, Sài hồ 8g, Cam
thảo 4g, Sinh địa 16g. Sắc uống (Long Đởm Tả Can Thang - Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sốt cao co giật: Long đởm thảo, Phòng
phong, Thanh đại đều 12g, Câu đằng 8g, Hoàng liên 20g, Ngưu bàng tử, Băng phiến,
Xạ hương đều 4g. Tán bột, làm hoàn, to bằng hạt lúa. Mỗi lần uống 5-10 viên với
nước sắc Kim ngân hoa (Lương Kinh Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị gan viêm cấp thể vàng da: Long đởm thảo
16g, Uất kim 8g, Hoàng bá 8g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
Tìm hiểu thêm
Tên khoa học:
Gentiana scabra Bunge Họ Long Đởm (Gentianaceae).
Mô Tả:
Loại cỏ sống lâu năm, cao 35-60cm. Thân rễ ngắn,
rễ nhiều, có thể dài đến 25cm, đường kính 1-3mm, vỏ ngoài màu vàng nhạt. Thân
mọc đứng, đơn độc hoặc 2-3 cành, đốt thường ngắn so với chiều dài của lá.
Lá mọc đối, không cuống, lá phía dưới thân nhỏ, phía trên to, rộng hơn, dài
3-8cm, rộng 0,4-4cm. Hoa mọc thành chùm, không cuống, ở đầu cành hoặc ở kẽ
những lá phía trên. Hoa hình chuông màu lam nhạt hoặc sẫm.
Địa lý:
Đa số phải nhập.
Thu hái, Sơ
chế:
Thu hoạch mỗi năm vào tháng 8-12. Thứ đào vào
cuối tháng 8 thì tốt hơn.
Bộ phận dùng:
Rễ. Rễ chùm, có nhiều tua nhỏ bằng chiếc tăm,
mềm, sắc vàng đậm, thật đắng là tốt.
Mô tả dược
liệu:
Long đởm đầu rễ nhỏ, bên dưới có chùm, chừng vài
chục rễ nhỏ, mọc thành cụm nhỏ dài thẳng hoặc hơi cong, dài 10-20cm, đường kính
0,1-0,3cm, mặt ngoài mầu vàng hoặc nâu vàng, phần trên có vân vòng tròn nổi lên
rất dầy, tòn bộ có đường nhăn dọc. Chất dòn, dễ bẻ gẫy. Mặt cắt ngang chỗ gẫy
hình tròn hoặc giống hình tam giác, mép cong, mầu trắng vàng hoặc nâu vàng, giữa
ruột có mấy đường gan lốm đốm hoa. Không mùi, vị rất đắng.
Bào chế:
+ Đào rễ đem về phơi râm. Khi dùng lấy dao bằng
đồng cắt bỏ hết lông, thái nhỏ, tẩm nước Cam thảo 1 đêm, phơi khô (Lôi
Công Bào Chế Dược Tính Giải).
+ Dùng dao bằng đồng cắt bỏ cuống, rửa rượu, phơi
khô hoặc ngâm nước Cam thảo 1 đêm, phơi khô, để dành dùng dần (Dược Phẩm Vậng
Yếu).
+ Bỏ cuống, dùng rễ, thái nhỏ, sao với rượu hoặc
ngâm nước Cam thảo 1 đêm, gạn nước đi, phơi khô, để dùng (Đông Dược
Học Thiết Yếu).
+ Rửa sạch, phơi khô. Thái từng khúc ngắn 2-3cm
(dùng sống). Tẩm rượu dùng có thể sao qua hoặc không sao] (Phương
Pháp Bào Chế Đông Dược).
+Có Glycozid đắng gọi là Gentiopicrin và chất
đường gọi là Gentianoza (Dược Liệu Việt Nam).
+ Trong Long đởm có một Glucozit đắng chừng 25
gọi là Gentiapicrin C16H20O9 và một chất đường gọi là Gentianoza C18H32O16
chừng 4%. Thủy phân Gentiapicrin ta sẽ được gentiagenin C10H10O4 và Glucoza.
Gentianoza gồm hai phân tử Glucoza và một phân tử Fructoza (Những Cây Thuốc Và
Vị Thuốc Việt Nam).
Tác dụng dược
lý:
+Tác dụng đối với Vị Trường: Liều thấp, Long đởm
thảo uống trước bữa ăn 1/2 giờ làm tăng dịch vị, nhưng nếu dùng sau bữa ăn,
ngược lại, làm giảm dịch vị. Chất Gentiopicrin có tác dụng làm tăng dịch vị khi
bơm trực tiếp vào dạ dày chó nhưng uống hoặc tiêm tĩnh mạch thì không có
tác dụng, điều này cho thấy nó có tác dụng trực tiếp. Long đởm thảo làm giảm
thời gian chuyển vận đường ruột của thỏ. Cho chuột dùng Long đởm thảo thấy không
có sự thay đổi khẩu vị hoặc trọng lượng gì cả (Trung Dược Học).
+Tác dụng kháng khuẩn: Trong thí nghiệm, dịch
tiêm Long đởm thảo có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh thông thường.
Gentiopicrin có tác dụng mạnh đối với ký sinh trùng sốt rét (Trung Dược Học).
+ Dùng nước sắc Long đởm thảo hợp với thuốc
Tây thông thường Điều trị 23 cas viêm não B (11 cas nặng, 6 trung bình, 6 nhẹ)
bằng nước sắc Long đởm thảo, thay cho thuốc Tây thông thường. Trong số
này, có 15 cas nhiệt độ bình thường vào ngày thứ 3, và chỉ có 1 cas có di chứng
(Trung Dược Học).
+ Theo Ebeling, Long đởm thảo có tác dụng phòng
sự lên men, uống ít (nửa giờ trước bữa ăn) có tác dụng kích thích sự bài tiết
dịch tiêu hóa, làm khỏa dạ dày, ngược lại, uống sau khi ăn cơm hay uống quá
nhiều, lại làm cho tiêu hóa kém sút, nhức đầu, hoa mắt, mặt đỏ (Những Cây Thuốc
Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Theo Nội Điên Trang Thái Lang (Nhật Bản -1938),
nghiên cứu tác dụng chất đắng của Long đởm thảo trên dạ dày nhỏ của chó thì thấy
cho chó uống Long đởm thảo sự bài tiết dịch vị tăng tiến và lượng acid tự do
cũng tăng hơn (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
Tính vị:
+Vị đắng, tính sáp, hàn, không độc (Trung Quốc
Dược Học Đại Tự Điển).
+Vị đắng, tính hàn (Trung Dược Học).
+Vị đắng, tính rất hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Quy kinh:
+Vào kinh Can, Đởm, Bàng quang (Trung Dược Học).
+Vào kinh Can, Đởm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Tham khảo:
+ “Long đởm thảo vị đắng, tính hàn, khí vị đều
hậu, trầm mà giáng. Thuộc âm. Là thuốc của kinh túc quyết âm (Can) và thiếu
dương (Đởm). Dùng Long đởm thảo có 4 tác dụng: 1 là trừ phong thấp ở hạ
bộ; 2 là trừ thấp nhiệt; 3 là trị từ rốn đến chân nặng, đau; 4 là
trị hàn nhiệt cước khí. Thuốc đi xuống, dùng Phòng kỷ tẩm rượu thì thuốc
đi lên và đi ra ngoài. Dùng Sài hồ làm chủ, Long đởm làm sứ là thuốc trị bệnh về
mắt (Trân Châu Nang).
+ “Tướng hỏa ở tại Can Đởm, chỉ tả chứ không bổ.
Dùng Long đởn\m để ích khí cho Can Đởm, tả tà nhiệt ở Can Đởm. Vì Long đởm
rất đắng và rất hàn, nếu uống quá nhiều sẽ làm tổn thương Vị, làm cho khí thoát.
Sách ‘Biệt Lục’ cho rằng uống Long đởm thảo lâu ngày làm cho cơ thể nhẹ nhàng
thì e rằng không thể tin được (Bản Thảo Cương Mục).
+ “Vị khí hư mà uống Long đởm thảo sẽ nôn, Tỳ khí
hư mà uống Long đởm thảo thì sẽ tiêu chảy (Bản Kinh Phùng Nguyên).
+ “Long đởm thảo vị rất đắng, tính rất lạnh,
lạnh lắm, giống như mùa Đông giá rét, ảm đạm, điêu tàn. Người xưa cho rằng vị
đắng lạnh – tính khắc phạt, vì vậy dùng tạm thời mà không dùng lâu, giống như
nhà vua không bỏ hình phạt cho nên mượn lấy đức, ý thật vô cùng. Nếu không phải
là người khỏe mạnh, có bệnh thực nhiệt mà cho uống bừa bãi thì nhất định sẽ bị
tổn hại…. Long đởm thảo, nếu tẩm rượu, dùng Sài hồ làm tá thì đi lên, chữa được
tất cả các bệnh mắt đỏ đau, mắt có mộng, có màng, mây” (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ “Long đởm thảo, uống nhiều thì hại dạ dày. Đừng
nên uống lúc bụng đói vì sẽ làm cho tiểu tiện không cầm được” (Trung Quốc Dược
Học Đại Tự Điển).
“Nước Long đởm đắng như nước mật, vị
lại rất đắng, tính rất hàn, dùng nhiều thì hại dạ dày, hơn nữa lại khó uống,
phải cho thêm ít Cam thảo để làm dịu vị đắng. Long đởm thảo tẩm với rượu thì đi
lên, đi ra ngoài phần biểu. Dùng Sài hồ làm chủ, Long đởm thảo làm sứ là
thuốc cần dùng chữa bệnh về mắt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ “Long đởm thảo và Hoàng bá đều là vị thuốc
đắng, tính hàn, dùng để thanh nhiệt, táo thấp, thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu. Nhưng
Hoàng bá hay thanh hỏa ỏa Thận, có khả năng làm mạnh và chắc cho chân âm mà trừ
hư nhiệt, thiên về dùng cho hạ tiêu, bệnh ở Thân, Bàng quang, Đại trường. Long
đởm thảo tả thực hỏa ở Can, Đởm, hay khứ hỏa để ổn định máu, trong điều trị,
thiên về dùng cho Can Đởm, Bàng quang (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê).
Phân biệt:
Thường nhầm với rễ Bạch vi: rễ này cứng, đen,
không đắng. Người ta cũng dùng cả cây Thanh ngâm (Curanga amara, họ Hoa mõm chó)
làm nam Long đởm thảo, cây này rễ trắng ngà, không có tua, chỉ giống Long đởm
thảo ở chất đắng mà thôi (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
Chú thích:
Ngoài vị Long đởm kể trên, trong đông y còn dùng
nhiều loại Long đởm khác, những vị thuốc gần giống và gồm những rễ nhỏ. Nhưng
trong tây Y lại dùng một loài khác (Gentiana lutca L) có hoa màu vàng, rễ
to hơn, thái thành từng miếng mỏng, có người dịch nhầm là Khổ sâm vì là thuốc bổ
mà lại đắng.
Long đởm thảo, Tác dụng
Long đởm thảo, Long đởm thảo vị thuốc quí, Long đởm thảo và sức khỏe, cách dùng Long đởm thảo, mua
Long đởm thảo, nơi bán Long đởm thảo, mua bán Long đởm thảo, giá cả Long đởm thảo, công năng Long đởm thảo,
nơi mua long dom thao, long dom thao, tac dung cua long dom thao, long dom thao vi thuoc qui, long dom thao
và suc khoe, cach dung long dom thao, mua long dom thao, noi ban long dom thao, mua ban
long dom thao, gia ca long dom thao, cong nang long dom thao, nơi mua long dom thao, longdomthao, tac dung
longdomthao, baithuoc co longdomthao, cach dung longdomthao, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP