La Bặc Tử,
Lô Bặc Tử, Tử Hoa Tòng (Bản Thảo Cương Mục) , Thổ Tô Tử (Nhĩ Nhã), Ôn Tòng, Địa
Khô Lâu, Địa Khô La, La Ba Tử, La Điền Tử, Khương Tinh Tử, Đặng Tùng Tử, Đường
Thanh Tử, Lai Bặc Tử (Hòa Hán Dược Khảo), Sở Tùng Tử (Bản Thảo Đồ Kinh), Phá Địa
Chùy (Quảng Vận), Hạ Sinh ( Vương Trinh Nông Thư), Hạt Củ Cải, Rau Lú Bú (Việt
Nam).
Tác
dụng:
+Thổ phong
đờm, tiêu thủng độc (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+Hạ khí,
định suyễn, trừ đờm,tiêu thực, trừ đầy trướng, lợi đại tiểu tiện, chỉ khí thống
(Bản Thảo Cương Mục).
+Dùng sống
có tác dụng thổ phong đờm, khoan hung cách, thác sang chẩn. Dùng chín có tác
dụng hạ khí, tiêu đờm, công kiên tích, lỵ ( Y Lâm Soạn Yếu Thám Nguyên).
+Hạ khí, yên
suyễn, hóa đờm, tiêu thực (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+Trị ngực
đầy, bụng trướng, khí trệ gây đau, lỵ, ho suyễn có đờm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Liều dùng:
6-10g sắc nước hoặc sao, tán thành bột.
Kiêng
kỵ:
+ Khí hư:
cẩn thận khi dùng ( Trung Dược Học).
+ Người hư
yếu, cơ thể thuộc loại chân khí hư: không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Lai phục
tử làm hao khí, vì vậy người vốn khí bị hư, không có thực tích, đờm trệ: không
nên dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị phản
vị, ế cách: La bặc, tẩm mật, chưng, nghiền nát, ăn (Phổ Tế phương).
+ Trị trẻ
nho ho suyễn, thở khò khè: Lai bặc tử, Ma hoàng, Đăng tâm thảo, Tạo giáp tử, Cam
thảo. Tán bột, mỗi lần dùng 4g ( Lai Bặc Tử Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).
+ Trị phế
quản viêm mạn, ho, khó thở, đờm nhiều: La bặc tử (sao) 10g, Tô tử (sao) 10g,
Bạch giới tử (sao) 3g. Tán nhuyễn, cho vào túi vải, sắc với 500ml nước còn
200ml, chia làm 3 lần uống (Tam Tử Dưỡng Thân Thang – Hàn Thị Y Thông).
+ Trị mùa
đông cóng lạnh, bị mọc nhọt sưng đau chưa vỡ: Lấy 1 củ Cải, cắt ngang, cho vào
lửa nướng chín, cắt bỏ chỗ cháy đen, sát vào chỗ đau, nguội thì thay miếng khác,
làm như vậy vài ba lần thì khỏi (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Trị táo
bón nơi người lớn tuổi: La bặc tử, cho nhỏ lửa, sao vàng, 30-40g, uống với nước
ấm, ngày 2-3 lần. Dương Kiện đã dùng trị 32 cas trên 60 tuổi, kết quả sau khi
uống thuốc dưới 12 giờ thì đi tiêu 20 cas, từ 12-24 giờ đi tiêu được : 9 cas,
trên 24 giờ vẫn chưa đi tiêu được: 3 cas, tỉ lệ kết quả: 90,6% (Trùng Khánh Y
Dược Tạp Chí 1986, 6:46).
+Trị huyết
áp cao:
* Dùng liều
trung bình (6-10g/ ngày) cho bệnh nhân uống. Theo dõi 467 cas huyết áp cao: có
kết quả 86,94%, kết quả rõ rệt: 49,8%, triệu chứng lâm sàng có cải thiện: 92%
(Lai Minh, Thông Tin Nghiên Cứu Y Học 1986, 6:185).
* Lấy La bặc
tử sắc nước cô đặc, nấùu thành cao, chế thành viên, mỗi lần uống 5 viên (tương
đương 30g thuốc sống), ngày uống 3 lần, trị trong 1 tháng. Đã dùng cho 179 cas
huyết áp cao giai đoạn I, kết quả đạt 90% (Lưu Kế Tang, Trung Tây Y Kết Hợp Tạp
Chí 1986, 2:110).
+ Trị rối
loạn tiêu hóa, thực tích, bụng đầy, miệng hôi, táo bón: La bặc tử (sao) 10g, Chỉ
xác 6g, Tiêu thần khúc 12g, sắc nước uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị kiết
ly cấp: Lai phục tử 12g, Tỏi 4g, giã nát, uống với nước nóng (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+Trị phế
quản viêm mạn, ho, khó thở, đờm nhiều:
1) La
bặc tử (sao), Tô tử (sao), đều 10g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược
Thủ Sách).
2) La
bặc tử (sao), Hạnh nhân đều 10g, Cam thảo (sống) 6g, sắc uống (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tìm
hiểu thêm
Tên
khoa học
Semen
raphani Sativi.Thuộc họ Cải ( Brasicaceae).
Mô
Tả:
Cây thảo,
sống hàng năm. Rễ củ phình to. Lá hình mũi mác. Hoa tự chùm, mầu trắng hoặc hơi
tím hồng, cánh hoa có vân. Quả loại cải, không mở, thắt lại giữa , các hạt xếp
thành hình chuỗi tràng hạt, xốp. Mùa hoa từ tháng 4-7, mùa quả từ tháng
6-9.Trồng khắp nơi vào mùa Thu, Đông để lấy củ ăn.
Thu
hái, sơ chế:
Đến mùa quả
già (mùa hè, thu), hái cả cây, phơi khô, đập lấy hạt, bỏ vỏ, loại bỏ tạp chất,
phơi khô.
Phần
dùng làm thuốc:
Hạt. Hạt
hình tròn, dẹp, có mặt lưng khum, mặt bụng tạo nên 1 cạnh lồi ở giữa, dài chừng
2,5-4mm, rộng 2-3mm, màu nâu đỏ hoặc nâu đen.
Mô
tả dược liệu:
Lai phục tử
hình bầu dục hoặc gần hình tròn trứng, hơi dẹp, đường kính 0,4cm. Ngoài mầu hồng,
một bên có mấy rãnh dọc, một đầu có 1 chấm nhỏ mầu nâu. Soi kính lúp thấy toàn
thể đều có vằn mắt võng, nhỏ, dầy. Chất cứng. Đập vỡ có nhân mầu trắng ngà hoặc
vàng, có dầu, không mùi, vị ngọt, hơi cay (Dược Tài Học).
Bào
chế:
+ Sẩy sạch
tạp chất, rửa sạch đất, vớt ra, phơi khô. Khi dùng giã nát ra là được (Dược Tài
Học).
+ Rửa sạch
hạt. Nếu dùng tiêu đờm thì dùng sống. Muốn tiêu thực thì dùng sao (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
Bảo
quản:
Đóng kín,
tránh ẩm.
Thành
phần hóa học:
+Trong Lai
Phục Tử có: Erucic acid, Oleic acid, Linolenic acid, Linoleic acid, Glycẻol
sinapate, Raphanin ( Trung Dược Học).
*Tác dụng
kháng khuẩn: Chất Raphanin trong Lai phục tử có tác dụng ức chế đối với
Staphylococus aureus, Streptococus pneumoniae và E.Coli.
*Tác dụng
chống nấm: Nước sắc Lai phục tử, ngâm kiệt, có tác dụng ức chế nhiều loại nấm
gây bệnh ngoài da.
*Thành phần
có tác dụng kháng khuẩn là Bạc tử tố ( Raphanin), in vitro, thuốc trộn lẫn với
ngoại độc tố vi khuẩn, thuốc có tác dụng rõ rệt. Nếu Raphanin hòa loãng 1:2000
có thể trung hòa 5 liều chíù tử của độc tố Tetanos ( uốn ván). Nếu pha loãng
1:500 thuốc có thể trung hòa 4 liều chí tử của độc tố bạch hầu.
*Nước chiết
xuất của Lai phục tử có tác dụng hạ áp từ từ mà rõ rệt và kéo dài.
*Bài thuốc
‘Cốt Chất Tăng Sinh Hoàn’ (La bặc tử, Thục địa, Kê huyết đằng, Nhục thung dung,
Dâm dương hoắc, Cốt toái bổ) có tác dụng kháng viêm rõ. Trong bài thuốc, thành
phần kháng viêm là Thục địa, Nhục thung dung và La bặc tử. Bài thuốc có tác dụng
hưng phấn hệ thống tuyến yên, vỏ thượng thận, đó là cơ sở của tác dụng kháng
viêm (Trung Dược Học).
Tính
vị:
+Tính ôn, vị
cay (Trấn Nam Bản Thảo).
+Vị cay,
tính nhiệt ( Ngọc Thu Bản Thảo).
+Vị cay,
ngọt, tính bình ( Trung Dược Học).
+Vị ngọt,
cay, tính bình (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Quy
kinh:
+Vào kinh
Phế, Tỳ ( Trấn Nam Bản Thảo).
+Vào kinh Tỳ,
Vị ( Dược Phẩm Hóa Nghĩa).
+Vào kinh
Phế, Vị, Tỳ ( Trung Dược Học).
+Vào kinh
Phế, Tỳ (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Tham
khảo:
+ “La bặc
căn, để sống thì có vị cay, tính hàn, nấu chín thì vị ngọt, tính bình. Củ nó ăn
sống được, lá nó nên nấu chín. La bặc căn có tác dụng ức chế được chất độc của
bột mì và đậu phụ. Kiêng dùng La bặc tử chung với Hà thủ ô và Địa hoàng. Nếu ăn
chung thì râu tóc chóng bạc. La bặc tử tiêu được thức ăn ngũ cốc, trừ đờm tích,
chận cơn ho, giải tiêu khát. Giã vắt lấy nước cốt mài với mực tàu cho vào họng
ăn ngăn được thổ huyết, hạ huyết rất nhanh. Sách ‘Bản Thảo Diễn Nghĩa’ ghi: Để
tán khí thì dùng với Sinh khương, để hạ khí xuống thì dùng La bặc. Tuy nhiên,
nấu nước uống nhiều thì sẽ bị đình lại ở chấn thủy, gây ra chứng dật ẩm vì La
bặc tử nhiều vị ngọt mà ít cay. Ông Chu Đan Khê nói: La bặc trị đờm có công dụng
xuyên tường đổ vách, người hư yếu uống vào thì hơi khí bị ngắn, khó thở ” (Dược
Phẩm Vậng Yếu).
+ “La bặc tử
trị đờm có công dụng xuyên tường đổ vách” (Bản Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di).
+ “La bặc tử
có tác dụng thông ứ, lợi khí. Để sống thì năng thăng lên, chín thì có tác dụng
giáng xuống. Thăng thì làm thổ phong đờm, tán phong hàn, phát sang chẩn. Giáng
thì làm yên cơm suyễn, ho, làm yên chứng lỵ, chận đau bên trong (Bản Thảo Cương
Mục).
+ “La bặc tử,
vô luận là sống hoặc sao đều có thể thuận khí, khai uất, tiêu trừ trướng mãn, là
loại thuốc hóa khí chứ không phải phá khí. Phàm thuốc lý khí, uống độc vị và
uống lâu thì tổn thương khí, còn La bặc tử, sao chín, tán thành bột, sau mỗi bữa
ăn uống 1 ít để tiêu thực, thuận khí thì không tổn thương khí, vì thuốc giúp ăn
nhiều hơn, phần khí được bổ dưỡng” (Y Học Trung Trung Tham Tây Lục).
+ “Thuốc nên
sao lên để cho vào thuốc thang vì dùng sống dễ gây buồn nôn” (Trung Dược Học).
+ “Thường
sơn gây nôn đờm do sốt rét; Qua đế gây nôn đờm nhiệt, Ô phụ tiêm gây nôn đờm
thấp; La bặc tử gây nôn đờm khí, Lê lô gây nôn đờm phong, dùng đúng sở trường
của mỗi vị thì rất hiệu nghiệm” (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ “Lai bặc
tử dùng sống, dùng sao, tác dụng hoàn toàn khác nhau. Dùng sống có thể thăng
hoặc tán; dùng sao có thể giáng, có thể tiêu. Lai bặc tử tục gọi là La bặc, hàm
lượng nhiều nước, ăn sống thì thăng khí, ăn chín thì giáng khí, tiêu thực, khoan
trung, hóa đờm, tán ứ. Rau cải củ gọi là Lai bạc anh, có thể cầm được tiêu chảy
lâu ngày. Lai bặc tử có thể làm giảm bớt sức bổ của vị Nhân sâm và Thục địa. Nếu
uống những loại thuốc bổ có Nhân sâm, Thục địa, nên kiêng cây Củ cải và cả hạt
nữa” (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Lai phụ tử, Tác dụng
Lai phụ tử, Lai phụ tử vị thuốc quí, Lai phụ tử và sức khỏe, cách dùng Lai phụ tử, mua
Lai phụ tử, nơi bán Lai phụ tử, mua bán Lai phụ tử, giá cả Lai phụ tử, công năng Lai phụ tử,
nơi mua lai phu tu, lai phu tu, tac dung cua lai phu tu, lai phu tu vi thuoc qui, lai phu tu
và suc khoe, cach dung lai phu tu, mua lai phu tu, noi ban lai phu tu, mua ban
lai phu tu, gia ca lai phu tu, cong nang lai phu tu, nơi mua lai phu tu, lai phu tu, tac dung
lai phu tu, baithuoc co lai phu tu, cach dung lai phu tu, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP