Kiệu - Allium chinense G. Don (A. bakeri Regel.),
thuộc họ Hành - Alliaceae.
Mô tả: Cây thảo nhỏ
có thân hành màu trắng, hình trái xoan thuôn, bao
bởi nhiều vẩy mỏng. Lá mọc ở gốc, hình dải hẹp, nửa
hình trụ, dài 15-60cm, rộng 1,5-4mm. Cụm hoa hình
tán kép trên một cuống hoa dài 15-60cm, mang 6-30
tán hoa màu hồng hay màu tím.
Bộ phận dùng: Cả cây
(bỏ rễ) - Herba Allii Chinensis.
Nơi sống và thu hái:
Nguyên sản của Trung quốc. Kiệu được dùng rộng rãi ở
nông thôn để lấy củ muối dưa, làm gia vị hay làm
thức ăn.
Tính vị, tác dụng:
Kiệu có vị cay đắng, tính ấm; có tác dụng làm ấm
bụng, tán khí kết, khỏi đầy hơi, bổ thận khí, mạnh
dương; còn có tác dụng lợi tiểu.
Công dụng: Kiệu cũng
dùng chữa đái dắt và bạch trọc như hành củ. Lại dùng
chữa phụ nữ có thai bị lạnh đau bụng, trị lỵ, ngã
ngất hôn mê, bỏng. Nếu ăn được đều thì chịu được rét
lạnh, bổ khí, điều hoà nội tạng, cho người ta béo
khoẻ.
Đơn thuốc:
1. Chữa phụ nữ có thai bị lạnh đau bụng, thai không
yên: Dùng Kiệu 32g, Đương quy 8g, sắc uống.
2. Chữa đi lỵ: Dùng một nắm Kiệu nấu cháo ăn.
3. Chữa tự nhiên ngã ngất hôn mê như chết, hoặc
trong khi ngủ mà bỗng dưng bị chết là do trúng khí
độc: Lấy Kiệu giã vắt lấy nước cốt, nhỏ vào mũi sẽ
tỉnh.
4. Chữa bị bỏng: Dùng Kiệu giã nhỏ, hoà với mật, vắt
lấy nước bôi thì chóng lành (theo Lê Trần Đức).