Thường
gọi là Hạt tiêu, còn có tên là Cổ nguyệt, Hắc cổ nguyệt,
Bạch cổ nguyệt, Hắc xuyên, Bạch xuyên là quả gần chín của
cây Hồ tiêu phơi hay sấy khô, dùng làm thuốc đợc ghi đầu
tiên trong sách Tân tu bản thảo. Tên thực vật của cây Hồ
tiêu là Piper Nigrum L. thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae). Cây
Hồ tiêu được trồng khắp nơi từ Nam chí Bắc nhiều nhất là ở
các tỉnh Châu đốc, Hà tiên, Bà rịa, Quãng trị. Các nước khác
có trồng tiêu nhiều như Thái lan, Malaixia, Indonexia, Ấn độ,
Campuchia, đảo Hải nam (Trung quốc).
Hạt
tiêu phơi hay sấy khô thành màu đen gọi là Hồ tiêu đen. Nếu
đem quả chín ngâm nước vài ngày xát cho tróc vỏ ngoài phơi
khô thành màu trắng gọi là Hồ tiêu trắng (Tiêu sọ). Hạt tiêu
dùng sống, giã nát hoặc tán bột dùng làm gia vị hoặc làm
thuốc.
Tính
vị qui kinh:
Hồ
tiêu vị cay tính nóng. Qui kinh Vị Đại tràng.
Theo
các sách cổ:
Sách Tân tu bản thảo: vị
cay, đại ôn, không độc.
Sách Bản thảo kinh sơ:
nhập thủ túc dương minh kinh.
Thành
phần chủ yếu:
Hồ
tiêu có tinh dầu. Thành phần chủ yếu có piperine, chavicine
(là 2 ankaloit chủ yếu) piperamine, peperanine, peperonal,
dihydrocarveol, caryophyllene oxide, cryptone,
transpinocarveol, cis-p-2-8-menthadien-I-ol.
Tác
dụng dược lý:
A.Theo
Y học cổ truyền:
Hạt
tiêu có tác dụng ôn trung chỉ thống, chủ trị chứng đau bụng
lạnh, nôn, tiêu chảy.
Trích
đoạn Y văn cổ:
Sách Tân tu bản thảo: "
Chủ hạ khí, ôn trung, trừ đờm, trừ phong lãnh ở tạng phủ".
Sách Bản thảo diễn nghĩa:
" Hồ tiêu trị chứng vị hàn đàm, ói nước, ăn vào ói ngay
rất tốt. Dùng nhiều tẩu khí Đại trường hàn hoạt nên dùng,
cần tùy chứng mà phối hợp các vị thuốc khác".
Sách Bản thảo cầu chân: "Hồ
tiêu so với Thục tiêu nóng hơn. Phàm các chứng do hỏa
suy hàn nhập đàm thực ứ trệ bên trong, trường hoạt lãnh
lî, âm độc phúc thống, vị hàn ói nước, nha sĩ phù nhiệt
tác thống (răng lợi do nhiệt xông sinh đau, dùng hạt
tiêu trị đều có kết quả, thuốc làm cho hàn khí bị loại
trừ mà bệnh tự khỏi. Nhưng thuốc chỉ có tác dụng trừ hàn,
tán tà không như Quế Phụ có tác dụng bổ hỏa ích nguyên
nên trường hợp tẩu khí động hỏa, âm hư khí bạc, rất nên
kî Hồ tiêu".
B.Kết
quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Dùng liều nhỏ tăng dịch
vị, dịch tụy, kích thích tiêu hóa ăn ngon, nhưng liều
lớn kích thích niêm mạc dạ dày gây sung huyết và viêm
cục bộ, gây sốt viêm đường tiểu, đái ra máu.
Piperin và piperidin gây
độc ở liều cao, piperidin làm tăng huyết áp, làm tê liệt
hô hấp và một số dây thần kinh (50mg/kg cân nặng).
Piperin tiêm bắp cho thỏ và chuột bạch hoặc cho hít hơi
với liều cao thì sau một thời gian kích thích ngắn, có
hiện tượng thở nhanh lên chân sau tê liệt rồi mê hoàn
toàn, co quắp, chết do ngừng thở. Giải phẩu thi thể, các
phủ tạng đều có hiện tượng xuất huyết.
Hồ tiêu có tác dụng sát
trùng, diệt ký sinh trùng, gây hắt hơi. Mùi Hồ tiêu đuổi
sâu bọ nên được dùng để bảo vệ quần áo len khỏi bị sâu
cắn.
Ankaloit Hồ tiêu có tác
dụng an thần đối với chuột nhắt rõ rệt.
Ứng
dụng lâm sàng:
1.Trị động kinh: Tác giả dùng
Kháng giản linh trị 73 ca động kinh đã dùng thuốc tây không
khỏi. Liều thường dùng mỗi ngày 150 - 200mg, có ca dùng liều
gấp đôi, liệu trình từ 6 tháng đến 2 năm. Kết quả rõ 36 ca,
tiến bộ 34 ca, tỷ lệ có kết quả 95,9%, không kết quả 3 ca.
Có 35 ca làm lại điện não đồ, có 23 ca được cải thiện, có
kết quả tốt đối với loại động kinh nguyên phát hoặc do chấn
thương cơn lớn, không có phản ứng phụ rõ rệt, trường hợp
dùng thuốc trên 200mg mỗi lần, có ca váng đầu, buồn ngủ kém
ăn hoặc buồn nôn (Báo cáo của phòng khám Động kinh Bệnh viện
Nhân dân thuộc Học viện Y học Bắc kinh- Tạp chí Nội khoa
Trung hoa 1977,6:321).
2.Trị trẻ em tiêu chảy: lấy 1
- 2 hạt tiêu trắng tán bột bỏ vào rốn của trẻ em dùng băng
dính dán lại 24giờ thay một lần, có thể dùng 2 - 3 lần. Đã
trị 209 ca có kết quả 81,3% (Tạp chí Trung y Hà bắc
1985,4:23).
3.Trị quai bị: Bột Hồ tiêu
0,5 - 1g trộn với bột mì trắng 5 - 10g, trộn với nước nóng
thành dạng hồ cho vào gạo đắp lên chỗ đau, dán băng keo mỗi
ngày thay 1 lần. Tác giả Bạch vân Điền trị 18 ca kết quả tốt
(Tạp chí Y học Sơn tây 1960,1:66).
Ngoài
ra Hồ tiêu phối hợp với Đậu xanh trị Xích Bạch lî, bột Hồ
tiêu bôi vào răng, Hồ tiêu dùng làm gia vị, làm tăng khẩu vị
kích thích tiêu hóa.
Liều
lượng dùng và chú ý:
Lượng dùng cho vào thuốc
thang: 2 - 3g, thuốc tán 1 - 2g. Dùng ngoài lượng vừa
đủ.