Vị thuốc
Hồng hoa còn gọi Hồng lam hoa,
Đỗ hồng hoa, Mạt trích hoa, Hồng hoa thái, Tạng hồng hoa, Kết hồng hoa, Sinh hoa,
Tán hồng hoa, Hồng lan hoa, Trích hoa, Thạch sinh hoa, Đơn hoa, Tiền bình hồng
hoa, Tây tạng hồng hoa, Lạp hồng hoa, Nguyên hồng hoa, Hoàng lan hoa, Dương hồng
hoa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ ĐiểnCây Rum.).
Tác
dụng: Hoạt huyết
khử ứ, thông kinh, thấu chẩn.
Chủ
trị:
+ Thông kinh
ứ trệ, trị bế kinh, sản dịch sau khi sinh không xuống được, thai chết lưu, lở
sưng tấy đau nhức, ứ đau do chấn thương.
Liều lượng:
1- 3 chỉ.
Kiêng
kỵ:
Phụ nữ có
thai, kinh nguyệt nhiều cấm dùng.
Bảo
quản:
Dễ hút ẩm,
hay vụn mốc và đổi màu. Để nơi khô ráo, thoáng mát, trong thùng lọ kín, có lót
chất hút ẩm.
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị các
chứng đau, dùng thứ Hồng hoa tươi gĩa vứt lấy nước cốt uống liên tục 3 lần (Ngoại
Đài Bí Yếu).
+ Thối tai
chảy nước vàng, dùng Hồng hoa 3 chỉ rưỡi, cùng Bạch phàn (phèn phi) 5 chỉ thứ
khô tán bột, chấm mủ cho sạch rồi cho thuốc bột vào lỗ tai, nếu không có Hồng
hoa tươi thì dùng cành hoặc lá của nó cũng được. Có bài cũng chữa như vậy, nhưng
bỏ phèn chua đi chỉ dùng Hồng hoa mà thôi (Thánh Huệ Phương).
+ Phương
thuốc sau được coi như là thánh dược, chữa được 62 loại phong, cụ Trương Trọng
Cảnh để chữa 62 chứng phong, các chứng đau trong bụng do khí huyết. Dùng Hồng
hoa 1 lượng, chia ra làm 4 phần, dùng rượu 1 bát nấu sôi uống, chưa khỏi uống
tiếp (Bản Thảo Đồ Kinh).
+ Cổ họng
sưng tắt nghẹt, dùng Lam hồng hoa gĩa vắt lấy nước cốt, uống 1 chén cho tới khi
khỏi, nếu gặp giữa lúc mùa đông, không có Hồng hoa tươi, lấy loại tươi trộn nước
cho thấm gĩa lấy nước cốt hoặc sắc uống (Quảng Lợi Phương).
+ Chứng
huyết vậng sau khi sinh, trong ngực buồn bực, dùng Hồng hoa 1 lượng, tán bột sắc
với rượu uống. Nếu người cấm khẩu rồi thì cậy răng đổ thuốc vào gia thêm 1 tý
Đồng tiện, nếu chưa đỡ thì đổ tiếp (Tử Mẫu Bí Lục).
+ Chứng
nghẹn ăn không được, vào ngày tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng 5, hái lấy thứ đầu Hồng
hoa, tẩm với giấm và rượu sậy khô, Huyết kiệt coi cục nào như quả dưa, hai thứ
bằng nhau tán bột, bỏ bột trộn giấm rượu chưng cách thủy nuốt dần còn đang nóng
(Giản tiện phương).
+ Có thai
nóng quá, đến nỗi thai chết lưu trong bụng mẹ, dùng Hồng hoa sắc lấy nước cốt
uống với một ít Đồng tiện nóng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Sau khi
sinh nhau không xuống, sau khi sinh huyết vậng dùng bài 1 ở trên cũng rất hay (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Phụ nữ
kinh nguyệt không thông, sinh ra đau bụng, có khi ứ huyết tích lại thành khối
cục đau đớn, dùng Hồng hoa, Diên hồ sách, Đương quy, Sinh địa, Ngưu tất, Xích
thược, Ích mẫu, Xuyên khung, tùy theo đó mà phân phối quân thần tá sứ, cân chừng
3-4 lượng sắc kỹ lần lấy 2 tô rưỡi chia 3 lần uống nóng, hoặc có thể tán bột
luyện mật làm hồ viên lớn bằng hạt long nhãn, lần uống 10 viên với nước sôi hoặc
rượu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Đề phòng
để khỏi bị lên đậu mùa, hoặc giữ cho đậu nó khỏi chạy vào mắt. DùngYên chi chính,
tức là thứ mà người ta đã chế bằng Hồng hoa ra, lúc mới khỏi lên đậu, dùng nó
bôi xoa lên trên mí mắt, trung quanh mắt, đuôi mắt rất hay (Trung Quốc Dược Học
Đại Từ Điển).
+ Thối tai
dùng Hồng hoa cùng với Bạc hà và nước cốt của lá Kim ty hà diệp, cho vào 1 tý
phèn chua tán thành ra bột nhỏ thổi vào tai (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Đậu mùa,
đậu đinh, đậu mộc, dùng Hồng hoa, Băng phiến, Trân châu tán thành bột cực mịn,
khảy cho ra máu độc rồi xức thuốc trên, xong băng lại (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).
+ Trị hành
kinh đau bụng: Hồng lam hoa 3 chỉ. Sắc với rượu chia 3 lần uống (Hồng Lam Hoa
Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị thống
kinh: Hồng hoa 1 chỉ 5, Xuyên khung 1 chỉ, Đương quy, Hương phụ, Diên hồ sách,
mỗi thứ 3 chỉ. Sắc uống, hoặc uống kết hợp với Đương quy ngâm rượu uống trước
khi có kinh (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Hồng hoa 1
chỉ, Ích mẫu thảo 5 chỉ, Sơn tra 3 chỉ, gia Đường đen. Sắc uống. trị sản dịch
không xuống sau khi sinh (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sưng
đau tại chỗ do chấn thương: Hồng hoa, Đào nhân, Sài hồ, Đương quy, mỗi thứ 3 chỉ,
Đại hoàng 2 chỉ. Nước và rượu mỗi thứ một nửa sắc uống. (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sưng
tấy do chấn thương, té ngã: Hồng hoa, Đào nhân, Đương quy vĩ, mỗi thứ 4 lượng,
Chi tử 8 lượng. Tất cả tán bột, hồ với giấm làm cho nóng đắp nơi đau, chia ra để
đắp dần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sởi
khó mọc ra, ban sởi màu không hồng sáng, sưng tấy: Đương quy 2 chỉ, Hồng hoa 1
chỉ 5, Tử thảo, Đại thanh diệp, Liên kiều, Ngưa bàng tử, mỗi thứ 3 chỉ, Hoàng
liên 1 chỉ 5. Cam thảo 8 phân. Cát căn 3 chỉ. Sắc uống (Đương Quy Hồng Hoa Ẩm -
Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tìm
hiểu thêm
Tên khoa học:
Carhamus
tinctorius L. Họ Cúc (Asteraceae).
Mô
tả:
Cây thảo cao
hơn 1m, thân nhẵn, đứng thẳng, có vạch dọc, trên có phần cành. Lá mọc so le gần
như không có cuống, bẹ, đầu chót nhọn như gai, mép có răng cưa nhọn không đều,
mặt lá trơn màu xanh sẫm, gân chính giữa lồi cao. Cụm hoa gồm nhiều hoa nhỏ, màu
đỏ cam, đẹp, họp lại thành gù hình đầu, ở ngọn và chót cành, lá bắc có gai. Hoa
có ống dài hình tên, trên có 5 cánh đỏ như tua sợi, hoa cái giữa có nhụy vàng,
kết quả vào dưới ống. Quả bề hình trứng có 4 cạnh lồi. Mùa hoa tháng 6-8, mùa
quả tháng 8-9. Trước đây đã được trồng nhiều ở Hà Giang Việt Nam, nay đang được
phát triển trồng nhiều nơi. Trồng bằng hạt vào mùa xuân.
Phân
biệt:
Cây Tạng
hồng hoa, còn có tên là Phiên hồng hoa, hoặc Lệ hồng hoa, có nhiều ở Tây Tạng và
Âu Uyên, thuộc họ đuôi Điều đó là cây thảo sống đa niên, ở phần dưới đất thân
tròn hình cầu, phình lớn, lá 6-9 phiến, lá hình dãi, không cuống. Vùng gốc có bẹ
rộng bọc lại hình vẩy, khoảng tháng 9,10 từ lá nổi lên 2,3 đoá hoa màu hồng nhạt,
hoa chia thành 6 phiến màu hồng đậm, nhỏ dài, trụ đầu tam thao, màu hồng tím,
nhỏ dài. Công dụng giống như Hồng hoa nhưng tốt hơn và giá tiền đắt hơn nên có
nhiều thứ giả. Người ta thường gọi là Tây tạng hồng hoa.
Thu
hái, sơ chế:
Đầu mùa hè,
khi hoa đang nở, cánh hoa đang chuyển từ vàng sang đỏ thì bắt đầu thu hái, để
nơi thoáng gió và nơi có ánh nắng cho khô, hoặc phơi trong râm cho khô là được.
Không nên phơi trực tiếp ngoài nắng để khỏi biến màu.
Phần
dùng làm thuốc:
Hoa (Flos
Carhami).
Mô
tả dược liệu:
1- Cánh hoa
dạng ống nhỏ dài, khô teo lại như tơ, mút trước xẻ 5 thùy, phiến thùy hình dải
hẹp, dài chừng 6,5mm, toàn thể dài hơn 13mm, bên ngoài biểu hiện màu hồng hoặc
hồng tím, nhị đực màu vàng nhạt, hợp ôm lại thành dạng ống, ở chính giữa có trụ
đầu ló ra màu nâu nhạt, chất nhẹ xốp, có mùi thơm đặc biệt. Hồng hoa có ở tỉnh
Hà Tây gọi là ‘Hoài hồng hoa’ rất tốt, cánh hoa dài, màu hồng tím, loại xản xuất
ở Tứ xuyên gọi là Xuyên hồng hoa có màu tím, hơi ẩm vàng, trước đây dùng làm
thuốc để nhuộm, hiện nay rất thông dụng.
2- Tạng
hồng-hoa hay Tây tạng hồng hoa, phần dùng làm thuốc là hoa trụ khô, phần nhiều
tập hợp thành dạng khối tròn rời, màu hồng đậm, đơn thể hoa trụ nhỏ mà dài, trụ
đầu tam hoa, hơi dẹt, mút trước hơi phình lớn, biểu hiện dạng loa kèn, dài chừng
6-10mm, bên ngoài biểu hiện màu hồng đậm, đầu trơn hơi sáng, có mùi thơm đặc
biệt, nhai nhổ ra thấy màu hồng tranh. Tạng hồng hoa thu hái vào tháng 9-10.
Bào chế: Hái
về bỏ đài hoa đi, chỉ dùng cánh hoa gói lại thành từng bánh phơi khô, hoặc gĩa
nát vắt thành miếng bánh phơi khô dùng gọi là ‘Tiền bính’. Loại chỉ phơi khô
dùng không đóng bánh gọi là ‘Tán hồng hoa’.
Cách dùng:
Muốn thử xem thực giả lấy một cánh Hồng hoa bỏ vào trong chén nước nóng thấy đỏ
như máu, phơi hai đến ba lần cũng còn đỏ mới thật làtốt. Dùng sống, cho vào
thuốc thang sắc uống để dưỡng huyết, tẩm rượu dùng để hoạt huyết phá huyết.
Thành
phần hóa học:
+ Ethyl
acetate, Benzene, Pent-1-en-3-ol, 3-Hexanol, 2-Hexanol, 2-Hexenal, 3-Methyl
butyric acid, Methylbutyric acid, p-Xylene, O-Xylene, Phenyl acetaldehyde,
Nonanal, Terpinen-4-ol, Verbenone, Decanal, Benzothiazole, E, E-2, 4, E, E-2, 4
Decadienal, Methyl cinnamate 1, 2, 3-Trimethoxy-5-Methylbenzene, a-Copaene,
1-Tetradecene, a-Cedrene (Koshi Saito và cộng sự Ca 1991, 115: 5139e).
+ Galatose (Từ
Trung Tự, Trung Dược thông Báo 1982 9 (1): 31).
. Hồng hoa
là vị thuốc giúp sức cho những vị thuốc bổ huyết, nếu dùng thì chỉ dùng ít thôi,
vì dùng nhiều thì có tác dụng điều huyết mà dùng nhiều quá thì có tác dụng hành
huyết, tiêu huyết, nếu dùng quá nhiều thì có tác dụng phá huyết, huyết không
ngưng lại thì nguy. Hồng hoa nhập vào can kinh, tiêu ứ huyết, làm cho huyết trơn,
nhuận táo, tiêu nhọt, sưng đau, giảm đau (Dụng Dược Pháp Tượng)
. Hồng hoa
có tác dụng hoạt huyết mà lại nhuận táo, làm cho khỏi đau, tiêu tan được những
chỗ sưng đau, khỏi tê bại và thông lợi được kinh mạch (Bản Thảo Cương Mục).
. Hồng lam
hoa là một vị thuốc chính về những môn thuốc hành huyết, nhưng chính ra nó chữa
cho những người sản hậu bị chứng huyết vậng xuất hiện các triệu chứng cấm khẩu,
bất tỉnh nhân sự bỏi vì ác huyết chưa tiêu xuống được nên đưa ngược trở lên nhập
vào tâm làm cho đến nỗi hôn mê không nói được, mục đích dùng Hồng hoa là cho
nhập vào tâm, can làm cho ác huyết phải đi xuôi xuống, thì chứng vậng, xoàng đầu,
chóng mặt, cấm khẩu tự nhiên khỏi cả. Cũng có trường hợp trong bụng đau như thắt,
là bởi ác huyết chưa tiêu hết, người sản phụ bị thai chết lưu, nếu không có
thuốc hành huyết hoạt huyết thì lầy gì mà đưa nó xuống. Vây thì vị Hồng hoa có
hay trục được ứ huyết, phải có những thứ được trục đi thì huyết mới thông
thương lưu lợi được, vì thế cho nên chứng đau quặn thắt ở bụng hay thai chết lưu
trong bụng dĩ nhiên phải dùng tới Hồng hoa để trục ra. Lại như những vị thuốc có
độc, có khi hại đến huyết phận thì vị Hồng hoa cũng ở trong đội ngũ thuốc hành
huyết, tất nhiên nó làm cho huyết phải hoạt động lên thì những độc kia phải giải
tán ngay (Bản Thảo Kinh Sơ).
. Khi thu
hái Hồng hoa, vào lúc thời kỳ hoa đã nở rồi, hàng sáng lựa những hoa mới hái,
đừng dùng hoa đã rụng, chỉ dùng hoa vừa mới nở màu nó vàng không nên lấy vội,
cho tới khi nào biến ra màu đỏ tươi mới nên hái. Ngọn của cây Hồng hoa có thể ăn
được, nhưng nó kỵ Trầm hương, Xạ hương. Để ý rằng, dùng nó để nhuộm màu áo, nếu
bôi Trầm hương hoặc Xạ hương vào hoặc bỏ vào túi cho thơm thì lập tức màu đỏ ấy
sẽ biến màu ngay (Đạo Hòa Bản Thảo).
. Lá Hồng
hoa như lá của cây Lam vì có hoa đỏ nên gọi là Hồng lam hoa vả lại người ta thấy
trong “Khai bửu bản thảo” gọi là Hồng hoa, tính khí cay ấm, chủ trị được chi
những phụ nữ sau khi sinh mà có chứng huyết vậng, cấm khẩu, ứ huyết, sản dịch
không dứt, đau thắt ruột, thai chết lưu, chứng đau bụng. Vì sắc của nó rất đỏ,
thể chất nhẹ nhàng cho nên có tác dụng sơ thông dong ruỗi dễ dàng, nhập vào
huyết phận để sơ thông kinh lạc, đó là một trong những vị thuốc qúy về sự hành
trệ và hoạt huyết (Tuỳ Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
. Hồng hoa
tính giải được đậu độc, tiêu tan được chỗ sưng tấy, sản hậu huyết vậng, ứ huyết
đau bụng, khi dùng nên pha vào một chút Đồng tiện nhưng nên nhớ chớ dùng quá
nhiều mà huyết đi mãi không thôi, có khi làm cho huyết ngược lên trên, điều này
không thể nói là không biết hay không chịu nhớ là điều nguy hiểm. Kể học giả
phải để tâm nghiên cứu rộng tìm những lời bàn bạc thật chính xác thì ngày mỗi
tiến tới chỗ tinh vi (Bản Kinh Phùng Nguyên).
Hồng hoa, Tác dụng
Hồng hoa, Hồng hoa vị thuốc quí, Hồng hoa và sức khỏe, cách dùng Hồng hoa, mua
Hồng hoa, nơi bán Hồng hoa, mua bán Hồng hoa, giá cả Hồng hoa, công năng Hồng hoa,
nơi mua hong hoa, hong hoa, tac dung cua hong hoa, hong hoa vi thuoc qui, hong hoa
và suc khoe, cach dung hong hoa, mua hong hoa, noi ban hong hoa, mua ban
hong hoa, gia ca hong hoa, cong nang hong hoa, nơi mua hong hoa, honghoa, tac dung
honghoa, baithuoc co honghoa, cach dung honghoa, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP