Vị thuốc Hải phiêu tiêu còn gọi -----Mặc ngư
cốt (Bản Thảo Cương Mục), Lãm ngư cốt (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Hải nhược bạch sự
tiểu lại (Bản Thảo Đồ Kinh), Bạch long, Nhu cốt, Ô tặc giáp, mặc ô ngư, Ô ngư (Hòa
Hán Dược Khảo), Ô tặc cốt. (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).Nang mực, Mai mực.
Tác
dụng: Hải phiêu tiêu
Liễm huyết, chỉ huyết đồng thời có tác dụng chế
lại với chất chua trong dịch vị và hút thấp.
Chủ
trị:
+ Trị đau dạ dầy, thừa dịch vị, di tinh, khí hư
(đới hạ), rong kinh, tiêu ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, loét hạ chi mãn tính,
xuất huyết do ngoại thương, tán bột rắc vào.
Liều
lượng:
1 chỉ 5 phân- 5 chỉ.
Kiêng
kỵ:
Vị này tán bột uống có hiệu quả hơn sắc hoặc
cho vào tễ thuốc, nhưng uống lâu ngày hoặc uống nhiều sẽ sinh ra táo bón, nếu
cần nên cần phải kết hợp với một số thuốc nhuận trường thích nghi khác để giảm
độ sáp của thuốc. Người âm hư nhiều nhiệt thì cấm dùng.
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị mờ mắt đỏ hoặc trắng (xích bạch mục ế),
nhiệt độc do thương hàn công vào mắt mà sinh ra xích bạch ế, dùng Ô tặc cốt 1
lượng, bỏ vỏ tán bột, bỏ vào một ít Long não điểm ngày 3 lần. Lại trị được các
loại mục ế, dùng Ô tặc cốt, Ngũ linh chi, các vị bằng nhau tán bột ăn với gan
heo xắt lát chắm với thuốc ăn ngay 2 lần (Thánh Huệ Phương).
+ Trị mộng thịt dùng “Chiếu thủy đơn” trị nhãn
ế gồm Hải phiêu tiêu 1 chỉ, Thần sa nửa chỉ, đâm nhỏ thủy phi đợi lắng cạn, lấy
một chút Hoàng lạp trộn làm thành viên cất dùng, khi cần dùng để trên lửa cho
tan ra bằng hạt thóc lớn vò nát bỏ trong khóe trước khi ngủ đến sáng rồi lấy
nước nóng rửa, chưa đỡ thì làm tiếp (Hải Thượng Phương).
+ Quáng gà dùng Ô tặc cốt nửa cân tán bột trộn
với Hoàng lạp 3 lượng, vắt thành bánh như đồng tiền lớn, mỗi lần uống một bánh
với 2 lượng gan heo. Lấy dao tre cắt bỏ thuốc vào, lấy nước cơm nửa chén nấu
chín ăn còn nước đem uống (Dương Thị Gia Tàng).
+ Đỏ mắt do huyết nhiệt, đàn bà hay mắc phải,
dùng bột Ô tặc cốt 2 chỉ, Đồng lục 1 chỉ tán bột, mỗi lần dùng 1 chỉ bỏ vào nước
nóng rồi ngâm nửa mắt (Dương Thị Gia Tàng).
+ Cam nhãn chảy nước mắt sống, dùng Ô tặc cốt,
Mẫu lệ, các vị bằng nhau tán bột hồ làm viên với 1 cái gan heo nấu với nước vo
gạo ăn (Kinh Nghiệm Phương).
+ Tai chảy mủ dùng Hải phiêu tiêu nửa chỉ, Xạ
hương 2 ly tán bột thổi vào tai (Chiêm Liệu Phương).
+ Lở mũi, cam mũi, dùng Ô tặc cốt, Bạch cập,
mỗi thứ 1 chỉ, Khinh phấn nửa chỉ tán bột xức vào (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực
Quyết).
+ Trẻ con lở rốn ra máu mủ, dùng Hải phiêu tiêu,
Yến nhi, tán bột trộn dầu xức vào (Thánh Huệ Phương).
+ Lở trên đầu, dùng Hải phiêu tiêu, Bạch giao
hương, mỗi thứ 2 chỉ, Khinh phấn 5 phân, tán bột tẩm dầu xức (Vệ Sinh Dị Giản
Phương).
+ Đinh nhọt độc dữ, lở loét: Trước tiên chích
cho ra máu lấy bột Hải phiêu tiêu bôi vào thì cùi nhọt tự nhiên ra (Phổ Tế
Phương).
+ Cứu trên huyệt lở không lành, lấy Ô tặc cốt,
Bạch phàn, các vị bằng nhau tán bột bôi hàng ngày (Thiên Kim Phương).
+ Trẻ con đàm nghẹt, lấy bột Hải phiêu tiêu lâu
năm uống với nước cơm, mỗi lần 1 chỉ (Trích Huyền Phương).
+ Tiểu ra máu, dùng 1 chỉ bột Hải phiêu tiêu,
nước cốt Sinh địa hoàng. Lại có bài dùng Hải phiêu tiêu, Sinh địa hoàng, Xích
phục linh, các vị bằng nhau tán bột, lần uống 1 chỉ với nước Bách diệp và Xa
tiền (Kinh Nghiệm Phương).
+ Đại tiện ra huyết, ăn nhiều dễ đói, trước
tiên dùng Hải phiêu sao vàng bỏ vỏ tán bột, mỗi lần uống 1 chỉ với nước sắc Mộc
tặc, 3 ngày sau uống ‘Trư Đỗ Hoàng Liên Hoàn’ (Trực Chỉ Phương).
+ Mửa ra máu đột ngột, dùng Ô tặc cốt uống 2
chỉ với nước cơm (Thánh Huệ Phương).
+ Hóc xương, dùng Ô tặc cốt, Trần quất hồng,
các vị bằng nhau tán bột, mỗi lần dùng một viên ngậm nuốt nước (Thánh Tế Tổng
Lục).
+ Lưỡi sưng ra máu, dùng Ô tặc cốt, Bồ hoàng,
các vị bằng nhau tán bột bôi vào (Giản Tiện Đơn Phương).
+ Ngoại thương ra máu, dùng Ô tặc cốt bôi vào (Trực
Chỉ Phương).
+ Ngứa lở bìu đái, dùng bột Ô tặc cốt, Bồ hoàng
bôi vào (Y Tông Tam Pháp Phương).
+ Trị băng huyết lâu ngày không bớt: Ô tặc cốt
4 chỉ, Thuyên thảo 2 chỉ, Tông thán 1 chỉ 5phân, Ngũ bội tử 1 chỉ 5 phân, Long
cốt, Mẫu lệ, Sơn thù, Bạch truật, Hoàng kỳ, Bạch thược, mỗi vị 3 chỉ. Cam thảo 1
chỉ. Sắc uống (Cố Xung Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị xuất huyết do ngoại thương: Ô tặc cốt,
Tùng hoa phấn, 2 vị bằng nhau tán bột gia một chút Băng phiến, đắp vào miệng vết
thương băng lại (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị băng lâu đới ha: ïÔ tặc cốt 1 lượng, Quán
chúng (đốt thành than) 8 chỉ, Tam thất 2 chỉ. Tán bột lần uống 3 chỉ với nước (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị bạch đới: Ô tặc cốt 4 chỉ, Lộc giác sương
3 chỉ, Phục linh, Bạch truật, Bạch chỉ, Bạch thược, Bạch vi, Mẫu lệ, mỗi thứ 3
chỉ, Sơn dược 4 chỉ, làm viên với mật, mỗi lần 2 chỉ, ngày 2-3 lần với nước (Bổ
Vinh Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị loét dạ dày tá tràng do nhiều dịch toan:
Ô tặc cốt 8 phân. Diên hồ sách 1 phân, Khô phàn 4 phần. Tán bột, thêm 6 phần mật
ong làm thành viên, mỗi lần uống 3 chỉ, ngày 3 lần sau khi ăn (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị loét dạ dày tá tràng do nhiều dịch toan:
Ô tặc cốt 85%, Bối mẫu 15%. Tán bột, mỗi lần uống 1 chỉ trước khi ăn (Ô Bối Tán
- Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị mụn nhọt lở loét lâu ngày không lành
miệng: bột Ô tặc cốt xức vào (nếu nhọt hỏa độc nhiều thì kết hợp với Hoàng bá,
Hoàng liên) (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Ngoài ra, có thể kết hợp với Ô tặc cốt với Băng
phiến tất cả nghiền rất mịn điểm vào mắt trị mục ế (mắt kéo màng) (Sổ Tay Lâm
Sàng Trung Dược).
Tìm
hiểu thêm
Mô
tả:
Hải phiêu tiêu là nang của nhiều loại cá mực,
thường dùng nhất là nang mực váng (mực nang) có tên khoa học Sepia esculenta
Hoyle, thuộc họ Seppidae. Mực có cấu tạo cơ thể dạng thủy động học, có màng vây,
có thể bơi nhanh trong nước nhờ tia nước phụt ra từ phễu thoát nước theo chiều
ngược lại, bơi theo lối phản lực. Đầu mực có vòng tay, còn gọi là tua mực hay
râu mực, ở quanh miệng, và phễu thoát nước là hai cơ quan vận động đặc trưng ở
mực. Ngoài 8 tay ngắn mực còn có hai tay dài hơn. Mặt trong các tay có rãnh dẫn
tới miệng, với nhiều giác tròn, các giác bám có vòng cơ khỏe, bên trong lát một
vàng bì dầy, có cuống ngắn. Nhờ vòng cơ khỏe, giác bám có thể co rút, do một
nhánh thần kinh tay điều khiển. Các tay của mực là cơ quan vận động và bắt mồi.
Phễu thoát nước ở Mực nằm ở chỗ tiếp giáp đầu và xoang áo, có dạng ống kính nón,
thông với ngoài và với xoang áo. Hai bên phễu có hai vết lõm, khớp với hai mấu
lồi sụn đóng mở khe xoang áo (khe bụng). Khi thành xoang áo co lại, hai van khép
chặt, khe bụng khép kín, nước sẽ được tống ra ngoài qua phễu thoát nước. Khi
thành xoang áo thôi co rút, nước lại dồn từ ngoài vào xoang áo qua khe bụng.
Hoạt động này tạo nên lực đẩy mực di chuyển theo chiều giật lùi, chứ không tiến
lên phía trước. Cách di chuyển này có lợi cho mực khi thấy kẻ thù hoặc con mồi
phía trước mắt. Mực có cuộc sống bơi lội rất hoạt động, chúng đuổi và bắt mồi
rất linh họat. Mực nang có thể bắt mồi lớn hơn nó về tầm vóc. Mực ống thì thường
lao như một mũi tên bắn vào đàn cá thu con đang tung tăng bơi, và nhanh chóng
chớp lấy một con cá bằng cách cặp đôi hàm sắc nhọn của mình vào lưng hoặc gấy
của cá. Hai trong mười tay của Mực biến thành tay dài, chỉ có giác ở phần cuối,
rất thuận lợi khi bắt mồi. Các tay của Mự chuyển mồi đưa vào miệng, ở hầu có
thành cơ khỏe có lưỡi bào và có hai hàm hình mỏ vẹt sắc. Mực có tuyến mực tiết
ra chất đen vào phần cuối trực tràng rồi đẩy ra ngoài, khi gặp nguy con mực
phóng dịch đen chứa các hạt melanin, thành vùng tối chung quanh cơ thể để che
mắt kẻ thù. Hơn thế nữa, bản chất của ancaloit của chất mực làm tê liệt các cơ
quan cảm giác hóa học của kẻ thù, nhất là của cá. Mực thường sống từng đàn ở
tầng nước đáy, khi kiếm mồi mới nổi lên tầng nước trên, hầu hết khi bơi lội
trong nước, mắt mực lồi ra và màu da luôn thay đổi theo màu nước để dễ lẩn tránh
và bắt mồi. Mực rất thích ánh sáng và màu trắng, khi thấy ánh sáng. Mực tập
trung rất đông. Thức ăn của Mực là các loài trứng cá, tôm, cá con.
Địa
lý:
Miền biển nước ta nơi nào cũng có Mực. Khai
thác vào tháng 3-9, là thời kỳ mực bơi vào gần bờ để sinh đẻ.
Phân biệt. Ở nước ta có nhiều loại Mực, nhưng
hai loài phổ biến có giá trị dinh dưỡng là Mực ống (Logigo Formasana), nhưng
thường dùng nang thì chỉ lấy ở các con Mực Nang như mực Ván Sepia Subaculeate,
mực Cơm Sepia Andreana Tte. Strup, phân bố rất nhiều ở Quảng Ninh, Hải Phòng,
Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình.
Phần
dùng làm thuốc:
Mai (Os Sepiae).
Mô
tả dược liệu:
Xương khô hình thuyền, biểu hiện hình viên chùy dẹt, ở giữa phình lớn hai đầu
cuối nhỏ dần, dài chừng 20cm, rộng chừng 10cm, dày 2-3cm, mặt ngoài biểu hiện
màu trắng, hai bên mép có lớp mỏng hóa sừng màu trắng vàng trong, mài thì
khuyết không hoàn toàn, cuối nang mực có một nút nhọn hình chùy nhọn, mặt lưng
hơi lồi lên, có lớp chất đá vôi cứng ngắt, mặt ngoài nổi lên những hạt phân bố
rất dày, từ nút cuối phía sau bắt đầu có biểu hiện hình chữ “V” ngược, bày xếp
nhiều lớp mặt bụng thẳng ngang, cuối phái sau hơi lõm xuống, chất thạch hôi thưa
thưa đi, dùng móng tay cạo vào có thể ra bột trắng, chất nhẹ mà giòn, mặt bẻ
ngang màu trắng có nhiều lớp bầy xếp. Thường dùng nguyên cả mai, màu trắng nhẹ
không vụn nát, ruột không đen không vàng là tốt.
Bào
chế:
1- Kinh nghiệm xưa: Khi dùng Ô tặc cốt cần phải
sao vàng để dùng (Bản Thảo Chú). Khi dùng Ô tặc cốt phải lấy nước nấu 3 giờ rồi
đem ra nướng cho vàng, bỏ vỏ cứng ngoài đi, nghiền nhỏ bỏ vào nước lã mà phi rồi
lọc sạch phơi khô để dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
2- Kinh nghiệm hiện nay: Rửa sạch sấy khô, cạy
vỏ cứng ở ngoài. Ngâm nước gạo hai ngày một đêm, thay nước hàng ngày. Rửa lại
cho sạch, luộc kỹ một giờ. Sấy khô. Khi dùng sao qua tán bột hoặc sao với bơ để
dùng (Trung Dược Học).
Tên
khoa học: Os
Sipiae.
Tên
gọi:
1- Phiêu tiêu là tổ con bọ ngựa (Xem: Tang
phiêu tiêu), vị thuốc giống tổ bọ ngựa nhưng ở ngoài biển, nên gọi là Hải phiêu
tiêu.
2- Mực có thể ăn thịt cả chim quạ, chúng thường
nổi lềnh bềnh trên mặt nước giả chết, làm cho nhiều con quạ lầm tưởng và bay sà
xuống ăn, nhanh như chớp, mực lôi quạ xuống nước ăn thịt. Do mực đã giết nhiều
quạ, nên người xưa cho nó cái tên “Ô tặc” (ô là quạ, tặc là giặc). Mực là giặc
đối với quạ.
Tính
vị:
Vị mặn. Tính ấm.
Quy
kinh:
Vào 2 kinh Can, Thận
Bảo
quản:
Đựng lọ kín, để nơi khô ráo.:
1- Hải phiêu tiêu bổ Can Thận, ích tinh khí,
tráng dương cố tinh, nhờ vậy nó có thể trị được chóng mặt xoàng đầu, hay quên,
liệt dương, di tiết tinh, tiểu không tự chủ, cho tới các chứng đau mỏi thắt lưng,
bạch đới. Trên lâm sàng thường kết hợp với Long cốt, Mẫu lệ để trị di tinh, kết
hợp với Thạch xương bồ, Nhân sâm, Viễn chí, Long cốt, Qui bản, Phúc bồn tử, trị
tiểu nhiều. Kết hợp với Bổ cốt chỉ, Câu kỷ tử, Hải cẩu thận, trị liệt dương. Tóm
lại, làm cho cường tráng, thu liễm là hiệu dụng chủ yếu của Hải phiêu tiêu, vỉ
vậy Chân Quyền nói rằng: “Con trai người suy nhược tinh tự xuất, yếu đuối mà
tiểu nhiều, thì nên gia nó để dùng” (Trung Dược Học Giảng Nghĩa).
2- Ô tặc cốt mặn ấm nhập vào Can và Thận, tác
dụng của nó là cầm máu, phần nhiều chủ ở hạ tiêu, như đàn bà rong kinh băng
huyết, ỉa ra, trĩ ra máu, tiểu ra máu, đều có thể dùng được, đồng thời có thể
dùng đến nó để trị các chứng xích bạch đới. Nhưng trong “Bản thảo” ghi Ô tặc cốt
có thể trị rong kinh băng huyết, lại có thể trị bế kinh, giống như có tác dụng
có thể thông mà cũng có thể cầm, thật ra Ô tặc cốt có sở trường trị về xuất
huyết, khác nhau về các chứng huyết nóng, chạy bậy hoặc ứ huyết làm lưu trệ cho
tới khí không nhiếp huyết, mà là do tổn thương ở can, thận gây ra. Can thật bị
tổn thương, khí xung nhâm không kiên cố thì đưa tới rong kinh băng huyết, Can là
tạng tàng huyết, can tổn thương thì huyết suy, làm huyết khô thì tinh bị bế. Như
thế, chẳng kể tới băng lậu và bế kinh, đều thuộc hư chứng, thì Ô tặc cốt đã có
thể cầm máu, lại có thể thông bế, thì không có gì mâu thuẫn cả. Kế đến, Ô tặc
cốt cầm huyết, lại có thể trị bên ngoài, chẳng hạn như cùng kết hợp với Bồ hoàng
xức vào để trị sưng lưỡi chảy máu, cùng với bột Hoè hoa thổi vào mũi làm cầm
chảy máu cam, gần đây có người dùng nó để trị lở loét ngoài da, tán bột xức vào
rất có hiệu quả, thật ra những cách điều trị này thì sách “Biệt lục” đã ghi rất
sớm trước đây rồi (Trung Dược Học).
Hải phiêu tiêu, Tác dụng
Hải phiêu tiêu, Hải phiêu tiêu vị thuốc quí, Hải phiêu tiêu và sức khỏe, cách dùng Hải phiêu tiêu, mua
Hải phiêu tiêu, nơi bán Hải phiêu tiêu, mua bán Hải phiêu tiêu, giá cả Hải phiêu tiêu, công năng Hải phiêu tiêu,
nơi mua hai phieu tieu, hai phieu tieu, tac dung cua hai phieu tieu, hai phieu tieu vi thuoc qui, hai phieu tieu
và suc khoe, cach dung hai phieu tieu, mua hai phieu tieu, noi ban hai phieu tieu, mua ban
hai phieu tieu, gia ca hai phieu tieu, cong nang hai phieu tieu, nơi mua hai phieu tieu, haiphieutieu, tac dung
haiphieutieu, baithuoc co haiphieutieu, cach dung haiphieutieu, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: 116B Đà nẵng Quận Ngô quyền - Hải phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP