Vị thuốc đại kích còn gọi Đại kích.Cung cự (Nhĩ nhã), Hạ mã tiên (Bản thảo cương mục), Kiều,
Chi hành, Trạch hành, Phá quân xác, Lặc mã tuyên (Hòa hán dược khảo).
Chủ
trị: Đại kích
(1) Phù thủng tay chân, bụng lớn.
(2) Ho suyễn, đàm ẩm tích tụ.
(3) Đau hông sườn như dao cắt.
Liều
dùng:
5 phân - 2 chỉ.
Kiêng
kỵ:
Người nguyên dương suy yếu không nên dùng. Phụ nữ có thai cấm
dùng. Phản Cam thảo.
Bảo
quản:
Để nơi khô ráo.
TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ ĐẠI KÍCH
Tên
khoa học:
EUPHORBIA PEKINENSIS RUPR.họ EUPHORBIACEAE.
Mô
tả:
Cây thảo đa niên, có độc, thân cao 0,3-0,7m, có lông nhỏ lá mọc
cách, hình mũi mác, bầu dục, hai bên mép lá có răng cưa không rõ ràng,
thân lá cắt ra có dịch trắng chảy ra, đầu mùa hè thân phân nhánh và ra
hoa màu vàng xanh. Quả hơi dẹp hình tròn, có vết nứt lồi ra.
Phân
biệt:
Có 2 loại Đại kích là Hồng nha đại kích và Miên đại kích.
1- Hồng nha đại-kích: Còn gọi là Hồng mao đại-kích hoặc Tử
đại-kích là vị Đại kích mà người phương nam Trung Quốc hay dùng, vị
thuốc khô biểu hiện hình tơ xe, cong nhăn teo, dài từ 32-50mm, dầy chừng
6-12mm, bên ngoài có màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi có rễ nhánh, vết nhăn
dài mà sâu, liên tiếp không dừng, chất cứng mà giòn (gặp trời mẩm dễ hút
ẩm và mềm trở lại) bẻ gẫy có màu nâu đất, có mùi đặc biệt.
2- Miên đại-kích: Còn gọi là Thảo đại-kích hoặc Bắc đại-kích,
biểu hiện hình trụ tròn dài, mà nhỏ, dài chứng 18-25cm có khi tới 50cm,
rộng chừng 6-9mm, mặt ngoài màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi uốn cong chất
mềm khó bẻ gẫy, dễ tước, vị này ít dùng.
Bào
chế:
Sao với giấm hoặc chưng với đậu hũ cho nhừ.
Tính
vị:
Vị đắng. Tính mát. Có độc.
Quy
kinh:
Nhập thận kinh:
Tác
dụng sinh lý:
Trục thủy, hóa ẩm.
Đơn
thuốc kinh nghiệm của tiền nhân:
1- Đại kích thường hay bỏ vào “Ngọc khu đơn tử kim đính” Để giải
cổ độc, nhiệt độc ung thư, mụn nhọt, các loại rắn độc cắn, trong uống
ngoài dán, khi nào đi cầu được là tốt.
2- “Bách tường hoàn” trị bệnh đậu biến thành đen, khô hãm không
phát ra được, hàn mà đại tiện bón, dùng Đại kích 1 lượng, Táo 3 trái, 1
chén nước nấu rồi phơi khô bỏ Đại kích lấy Táo nhục sấy khô làm viên
uống từ 3-5 phân đến khi nào đi cầu được thì thôi.
3- “Khống điên đơn” trị đờm dãi lưu trệ trên hoặc dưới ngực, hung
cách, biến chứng đủ thứ bệnh, khi đau cổ gáy ngực vai lưng sườn, khi tay
chân đau nhức không chịu được, gân cốt rã rời, đau không cố định khi
rung chỗ này khi giật nơi khác, da thịt mất cảm giác như bại liệt, những
chứng ấy không nên cho là phong khí, phong độc và ung nhọt để trị, hoặc
trong lúc ngủ chảy nước dãi nơi miệng, ho suyễn, đam mê tâm khiếu dùng
Tử đại kích (sao qua), mỗi thứ 1 lượng tán bột, đâm lấy nước cốt gừng
làm viên bằng hạt ngô đồng lớn, uống lần 7-20 viên nuốt với nước bọt,
nếu muốn đi cầu được lợi hơn dùng 50-60 viên (Tam nhân phương).
4- Trúng gió phát sốt, dùng Đại kích, Khổ sâm, mỗi thứ 4 lượng,
nước dấm, rượu trắng 1 đấu nấu mà rửa, lạnh thì thôi (Thiên kim phương).
5- Đau răng, răng lung lay, dùng Đại kích nhai ở chỗ đau (Sinh
sinh phương).
6- Phù thủng thở gấp, tiểu tiện ít, phù bụng, dùng Đại kích 2
lượng, Can khương sao đen nửa lượng, tán bột lần uống 3 chỉ với nước
gừng sống khi nào đại tiểu tiện thông thì thôi (Thánh tế tổng lục
phương).
7- Phù thủng cấp hay mãn tính, dùng Đại kích, Đương quy, Quất bì
mỗi thứ 1 lượng, 2 thăng nước sắc còn 7 chén đi cầu được là tốt, nhưng
cũng cần uống thêm 2-3 thăng nữa, khi đỡ dồi cử ăn đồ độc trong 1 năm
(Lý Ráng, Binh bộ thủ tập phương).
8- Phù thủng căng sình, dùng Đại kích 1 lượng, Quảng mộc hương
nửa lượng tán bột, uống với rượu 1 chỉ 5, đi cầu ra nước xanh biếc, sau
đó ăn cháo, cử ăn đồ mặn. Cũng trị như trên, dùng Đại kích 1 lượng đốt
tồn tính tán bột uống rượu lúc đói.
9- Phù lớn như cái trống, phù cả người, dùng 1 đấu táo bỏ vào
nồi, tẩm qua nước, dùng Đại kích (rễ và ngọn non) trét kín nắp nồi thật
kín nấu chín, lấy Táo ăn. Cũng trị như trên, dùng “Đại kích tán” gồm:
Đại kích, Bạch thiên ngưu, Mộc hương các vị bằng nhau tán bột, lần uống
1 chỉ với một cặp thịt thăn heo, xẻ ra bỏ thuốc vào giữa gói lại nước
chín ăn lúc đói (Hoạt pháp cơ yếu phương).
Những
bài thuốc kinh nghiệm hiện nay:
1- “Thập táo thang” trị trúng phong thái dương kinh, biểu đã giải
mà lý chưa hòa, đau tức ran sườn, hoặc vì nước đình tích mà ho, phù
thủng thở gấp, đại tiểu tiện bí, Cam toại, Nguyên hoa, Đại kích, tán bột
sắc với nước Đại táo uống (Thương hàn luận).
2- Khống diên đơn: Đàm lưu trệ ở trên dưới hông cách, biến thành
nhiều chứng bệnh, hoặc ở cổ gáy, ngực, lưng, hông, sườn, tay chân, đùi
đau nhức không chịu được, do tê mất cảm giác như bại, Đại kích, Cam
toại, Bạch giới tử, trộn nước làm viên (Tam nhân phương).
Tham
khảo:
1- Chức năng của Đại kích là trục thủy hóa ẩm, thích hợp trong
phù thủng đàm ẩm do thiệt chứng. Người có khí lựïc tốt thì nên dùng nó.
Ấy là loại thuốc có tính độc mạnh nếu dùng không đúng thì tổn thương tới
nguyên khí. Lý Thời Trân đã nói rằng: “Lợi cho người rất nhanh mà cũng
làm thương tổn tới người, người suy nhược ốm yếu uống vào có thể thổ
huyết, người thầy thuốc không thể không biết được”.
2- Đại kích hạ được ác huyết, khối kết, sôi bụng, thông kinh
nguyệt, trụy thai (Chân Quyền- Dược tính bản thảo, Đường).
3- Đại kích chửa mề đay, chứng phong độc sưng chân, hàng ngày nấu
nước ngâm rửa chân thì khỏi (Tô Tụng - Gia Hựu đồ kinh bản thảo, Tống).
4- Đại kích là thuốc xổ độc, chữa bệnh vàng da dịch lây lan, sốt
rét đang nóng nhiều hơn lạnh tan khối cứng ở bụng (Đại minh, Nhật hoa
chư gia bản thảo, Tống).
5- Đại kích bẩm thụ khí âm độc của trời đất mà sống, nên vị đắng
tính hàn mà có độc. Chân Quyền và Khiết Cổ lại cho kiêm vị cay sách Biệt
lục lại cho kiêm vị ngọt. Đúng ra phải là cay nhiều hơn, không cay thì
không có độc vậy. Vị đắng tính hàn nên giỏi về đi xuống và vào can thận.
Vị này thì đi ngang không chỗ nào là không tới. Khiết Cổ lại cho rằng tả
phế thì tổn tới chân khí, chủ về hạ cổ độc. Cổ độc ắt nóng ắt cay, cay
thì đi vào tạng phủ, nên mượn cái tính hàn vị cay của nó đuổi cái cay
nóng là nhằm lấy độc để công độc. Vị đắng tính hàn thì đi xuống và xổ
được, nên trục được thủy tà còn lại. Thấp nhiệt và đình ẩm ở trung hạ
thành tích tụ. Vị đắng, cay, ngọt, tính hàn nên ta được nhọt sưng ở cổ
nách, thông lợi đại tiểu tiện, xổ thuốc độc, thông kinh nguyệt. Vị cay
đắng có độc, nên lại xổ thai được. Bệnh vàng da lây lan nếu không phải
nguyên khí thực thì chớ dùng. Nội kinh viết “Tà chi sở tấu kỳ khí tất
hư” người trúng phong thì khí ắt hư. Phần cuối “Bản kinh” lại ghi rằng,
nó chủ về trúng phong da dẻ đau buốt ói mửa là không phải. Phải chăng
bệnh hư có thể dùng thuốc đắng hàn có độc để xổ không? Càng làm bệnh hư
thêm nữa (Cù Hy Ung - Bản thảo kinh sơ, Minh).
6- Đại kích đắng, hàn, có độc, vào can và bàng quang, thông lợi
đại tiểu tiện, xổ được 10 loại bệnh thủy độc, trục huyết khối tích tụ,
nấu chung với Táo cho mềm, bỏ phần cứng phơi khô, tính âm hàn chạy giỏi,
rất tổn chân khí, nguyên khí không thực mạnh, có thủy thấp đình ứ, không
nên dùng lầm (Lý sĩ Tài - Bản thảo đồ giải, Minh).
7- Đại kích khí vị đắng hàn, tính thuần dương, đứng đầu thuốc xổ
mạnh, trên tả phế khí dươí xổ thận thủy, nhưng kèm vị cay, đi bên cạnh
kinh mạch, nơi nào cũng đến, ngâm nước có màu xanh, lại đi vào can đởm,
nên sách đều ghi xổ được 12 loại thủy độc, cổ độc đầy bụng đau. Lý Thời
Trân ghi rằng phàm chất đờm nhớt, theo khí lên xuống, không nơi nào là
không đến, vào tâm thì mê khiếu mà động kinh, vào phế thì khiến tắc
nghẽn mà thành ho đờm dính nhớt suyễn cấp, lạnh lưng. Vào can thì lưu
lại thành tích tụ mà đau mạng sườn, nôn khan, khi nóng khi lạnh. Vào
kinh lạc thì tê rần đau nhức. Vào gân xương thì cổ gáy ngực lưng, thắt
lưng mạng sườn, tay chân đau lan ngầm. Ba nguyên nhân gây ra bệnh tật
(nội, ngoại nhân và bất nội ngoại nhân) cũng lấy Khổng diên đơn chủ trị,
bởi có Đại kích tiết được thủy thấp của tạng phủ, Cam toại hành được
thủy thấp cuả kinh lạc. Bạch giới tử tán được đờm khí trong da, ngoài
niêm mạc, ắt phải chứng thực, thực nhiệt, mạch thực mới được dùng, nếu
không thì sẽ tả phế thương thận, hai người không ít. Nếu trúng độc của
nó chỉ có Xương bồ mới giải được. Đại kích màu tím sản xuất ở Hàng Châu
là loại tốt, loại sản xuất ở phía Bắc màu trắng, không nên dùng vào
thuốc. Nấu với tương bỏ phần cứng rồi dùng, được Đại táo dùng chung thì
không tổn thương Tỳ sợ Xương bồ, phản Cam thảo, mầm non gọi là Trạch tất
cũng chữa về như Đại kích (Hoàng cung Tú - Bản thảo cầu chân, Thanh).
8- Khiết Cổ gọi Cam toại thuần dương còn Đại kích thì vị dương
trong âm vậy “Bản kinh” ghi rằng Đại kích kiêm chủ chứng trúng phong,
đau buốt ngoài da, ói mửa. Tô Tụng cũng có trị phong mề đay và chứng
sưng chân do phong độc, chỉ có do Can gây ra bệnh mà dùng tới nó vậy.
Can là con của Thận, phàm trong ngũ hành khí của mẹ thịnh thì phải nhanh
chóng tả con của nó. Nay vì do con mà tiết tà khí của mẹ làm cho nó
không còn lưu lại được. Tiền Trọng Dương chữa chứng đậu chẩn đen hãm vào
thì dùng bách tường cao. Dùng Đại kích để tả độc trong thận, không phải
tả thận thủy, tức là trong Bản kinh về chủ trị đầu tiên là chữa cổ độc,
Nhật hoa tử cũng cho rằng nó có tác dụng tiết thuốc độc. Chẳng hạn như
trong các bài thuốc Ngọc khu đơn, Tử kim dính, đều có thể giải độc. Biết
được vật này trục thủy, thủy tà này ắc đau cấp và tích tụ cái độc rất
hại tới chân khí là có thể dùng được, nếu không thì sẽ bị cái công trục
quá mạnh nó gây hại thì thực là khó tránh. Hoặc là Bản kinh ghi chủ về
trúng phong đau buốt ngoài da, đấy chính là chỉ về phong thấp mà nói,
vốn bệnh này không tách rời thùy tà (Dương Thời Thái - Bản thảo cầu
nguyên, Thanh)
Đại kích, Tác dụng
Đại kích, Đại kích vị thuốc quí, Đại kích và sức khỏe, cách dùng Đại kích, mua
Đại kích, nơi bán Đại kích, mua bán Đại kích, giá cả Đại kích, công năng Đại kích,
nơi mua daikich, daikich, tac dung cua daikich, daikich vi thuoc qui, daikich
và suc khoe, cach dung daikich, mua daikich, noi ban daikich, mua ban
daikich, gia ca daikich, cong nang daikich, nơi mua daikich, dai ke, tac dung
dai ke, baithuoc co dai ke, cach dung dai ke, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP