+ Cúc hoa có tácdụng Dưỡng huyết mục (Trân Châu Nang).
+ Khứ ế mạc, minh mục (Dụng Dược
Tâm Pháp).
+ Sơ phong, thanh nhiệt, minh mục,
giải độc (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Thanh tán phong nhiệt, bình
can, minh mục, thanh nhiệt, giải độc (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Chủ
trị:
+ Cúc hoa Trị chóng mặt, đầu đau, mắt đỏ,
hoa mắt các chứng du phong do phong nhiệt ở Can gây nên, nặng
một bên đầu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Kiêng
kỵ:
+ Bạch truật, rễ Câu kỷ, Tang căn
bạch bì làm sứ cho Cúc hoa ((Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+ Khí hư, Vị hàn, ăn ít, tiêu
chảy: không dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Dương hư hoặc đầu đau mà sợ
lạnh: kiêng dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Tỳ Vị hư hàn: không dùng (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Liều
dùng:
6 – 20g.
TÌM HIỂU THÊM VỀ CHI TỬ
Tên
Hán Việt khác:
Vị thuốc cúc hoa còn gọiTiết hoa (Bản Kinh), Nữ tiết, Nữ
hoa, Nữ hành, Nhật tinh, Cảnh sinh, Truyền duyên niên, Âm thành,
Chu doanh (Biệt Lục), Trị tưởng (Nhĩ Nhã), Kim nhị, Mẫu cúc (Bản
Thảo Cương Mục), Nữ hoa (Hòa Hán Dược Khảo), Kim nhụy (Bản Thảo
Cương Mục), Dược cúc (Hà Bắc Dược Tài), Cam cúc hoa (Tùy Tức Cư
Ẩm Thực Phổ), Bạch cúc hoa (Dược Liệu Việt Nam).
Bạch cúc là cây sống dai, hay
sống một năm. Thân đứng nhẵn, có rãnh. Lá mặt dưới có lông và
trắng hơn mặt trên có 3-5 thùy trái xoan tròn đầu hay hơi nhọn,
có răng ở mép. Cuống lá có tai ở gốc. Đầu to, các lá bắc ở ngoài
hình chỉ, phủ lông trắng, các lá trong thuôn hình trái xoan.
Trong đầu có 1-2 hàng hoa hình lưỡi nhỏ, màu trắng, các hoa ở
giữa hình ống nhiều, màu vàng nhạt. Không có mào lông. Tràng hoa
hình ống có tuyến, 5 thùy. Nhị 6, bao phấn ở tai ngắn. Bầu nhẵn,
nghiêng. Quả bế gần hình trái xoan, bông thường hay ướp trà, rất
hiếm.
Thu
hái:
Cuối mùa thu, đầu mùa đông,
khoảng tháng 9 – 11, khi hoa nở. Cắt cả cây, phơi khô trong chỗ
râm mát rồi ngắt lấy hoa. Hoặc chỉ hái lấy hoa, phơi hoặc sấy
khô là được.
Bộ phận dùng làm thuốc: Hoa khô (Flos
Chrysanthemi). Loại hoa đóa nguyên vẹn, mầu tươi sáng, thơm,
không có cành, cuống, lá, là loại tốt.
Mô
tả dược liệu:
Bên ngoài có mấy lớp cánh hoa như
hình lưỡi, cánh dẹt, ở giữa có nhiều hoa hình ống tụ lại. Bên
dưới có tổng bao do 3 – 4 lớp phiến bao chắp lại. Mùi thơm mát,
vị ngọt, hơi đắng (Dược Tài Học).
Bào
chế:
+ Lúc hoa mới chớm nở, hái về,
phơi nắng nhẹ hoặc phơi trong râm, dùng tươi tốt hơn.
+ Muốn để được lâu thì xông hơi
Lưu hoàng 2-3 giờ, thấy hoa chín mềm là được, rồi đem nén độ một
đêm, thấy nước đen chảy ra, phơi khô cất dùng.
Bảo
quản:
Dễ mốc, sâu mọt. Để nơi khô ráo,
xông Diêm sinh định kỳ. Không nên phơi nắng nhiều vì mất hương
vị và nát cánh hoa, biến mầu, không được sấy quá nóng. Chỉ nên
hong gió cho khô, dễ bị ẩm.
Thành
phần hóa học:
+ Borneol, Camphor, Chrysanthenone, Lutein-7-Rhamnoglucoside,
Cosmoiin, Apigenin-7-O-Glucoside (Giang Tô Tân Y Học Viện,
Trung Dược Đại Từ Điển (Q. Hạ, Thượng Hải Nhân Dân Xuất Bản
1977: 2009).
+ Acacetin-7-O-Rhamnoglucoside, Apigenin,
Apigenin-7-O-Rhamnoglucoside, Quercetin 3-O-galactoside,
Quercetrin, Isorhamnetin-3-O-galactoside,
Luteolin-7-O-Rhamnoglucoside (Kaneta M và cộng sự, Agric Biol
Chem, 1978, 42 (2): 475 (C A 1978, 88: 186096f).
+ Lyteolin, b-Elemene, Thymol, Heneicosane, Tricosane,
Hexacosane (Takashi M và cộng sự, Tohoku Yakka Daigaku Kenkyu
Nempo, 1978, 25: 29 (C A 1979, 91: 137156d).
Tác
dụng dược lý:
+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc
Cúc hoa, trong thí nghiệm, có tác dụng ức chế tụ cầu trùng vàng,
Liên cầu trùng dung huyết Bêta, Lỵ trực trùng Sonnei, trực trùng
thương hàn (Trung Dược Học).
+ Điều trị huyết áp cao: Nước sắc
Cúc hoa cho 46 người bệnh huyết áp cao hoặc bệnh xơ mỡ động mạch.
Chỉ trong vòng 1 tuần lễ các chứng đầu đau, chóng mặt, mất ngủ
có cải thiện, 35 người trở lại huyết áp bình thường. Trên 10-30
ngày sau những triệu chứng còn lại tiến triển tốt (Chinese
Hebral Medicine).
+ Bạch cúc hoa có tác dụng ức chế
phần nào các loại nấm ngoài da (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tính
vị:
+ Vị đắng, tính bình (Bản Kinh).
+ Vị ngọt, không độc (Biệt Lục).
+ Vị đắng mà ngọt, tính hàn (Thang
Dịch Bản Thảo).
+ Vị ngọt, đắng, tính bình, hơi
hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Vị ngọt, đắng, tính hơi hàn (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách
Quy
kinh:
+ Vào kinh Phế, Tỳ, Can, Thận (Lôi
Công Bào Chích Luận).
+ Vào kinh Phế, Can, Tỳ (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
+ Vào kinh Phế, Can, Thận (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị chóng mặt, uống lâu làm
nhan sắc đẹp, không gìa: Bạch cúc chọn vào ngày 9-9 (âm lịch),
lấy hoa 2 cân, Phục linh một cân, tán bột. Mỗi lần uống 8g với
rượu nóng, ngày 3 lần (Thái Thanh Kinh Bảo phương).
+ Trị đàn ông, đàn bà bị chứng
đầu phong lâu ngày không bớt, choáng váng, tóc khô tóc rụng, đàm
nghẹt trong ngực, mỗi lần lên cơn là chóng mặt, hoa mắt, lảo đảo
muốn té, lên cơn khi thay đồi thơi tiết: Trước hết, cứu 2 huyệt
Phong trì 14 tráng, đồng thời uống 'Bạch Cúc Hoa Tửu’. Chế rượu
bằng cách vào lúc cuối xuân, đầu hè dùng ngọn, thân, hoa Cúc mềm,
phơi âm can, tán bột. Mỗi lần uống 1 muỗng lúc đói vớ'i rượu
ngày vài lần, theo đó mà tăng thêm. Nếu không uống rượu được thì
trộn nước cháo uống. Cũng trị như trên, vào tháng 8, mùa thu,
hái hoa, phơi trong râm cho khô, dùng 3 cân gói trong lụa, bỏ
vào ngâm với 3 đấu rượu, ngâm 7 ngày, Mỗi ngày uống 3 lần, uống
hơi say là được (Bạch Cúc Hoa Tửu - Thiên Bảo Đơn phương).
+ Trị đầu đau do phong nhiệt: Cúc
hoa, thạch cao, Xuyên khung, đều 12g. tán bột. Mỗi lần uống 6g
với nước trà (Giản Tiện Đơn phương).
+ Trị thái âm phong ôn, ho, sốt,
hơi khát: Hạnh nhân 8g, Liên kiều 6g, Bạc hà 3,2g, Tang diệp
10g, Cúc hoa 4g, Cát cánh 8g, Cam thảo 3,2g, Vi căn 8g. sắc với
2 chén nước, còn 1 chén. Chia làm 3 lần uống (Tang Cúc Ẩm – Ôn
Bệnh Điều Biện).
+ Trị phong thấp đau nhức ở gối,
chân: Cúc hoa, Ngải diệp lâu năm, tán bột, trộn với hồ đắp lên
trên gối, lâu ngày sẽ khỏi (Phù Thọ phương).
+ Trị ban đậu chạy vào mắt sinh
ra màng mộng: Bạch cúc hoa, Cốc tinh thảo, Vỏ đậu xanh, lượng
bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 4g, lấy 1 quả Thị, 1 chén cơm
nếp, nấu cho đến khi cơm cạn thì ăn hết, ngày ăn 3 trái. Bệnh
nhẹ ăn chừng 5 - 7 ngày, bệnh nặng dùng chừng nửa tháng (Nhân
Trai Trực Chỉ Phương Luận).
+ Trị mắt có màng mộng sau khi
bị bệnh: Bạch Cúc hoa, Thuyền thoái, 2 vị bằng nhau, tán bột.
Mỗi lần dùng 2-12g trộn với một ít mật, sắc uống (Cấp Cứu phương)
+ Trị âm hộ sưng đau: Cúc hoa
ngọn non, gĩa nát, sắc lấy nước xông, còn nước dùng để rửa (Thế
Y Đắc Hiệu phương)
+ Trị say rượu không tỉnh: lấy
Cúc hoa tán bột, uống (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị hoa mắt, chóng mặt: Cam cúc
hoa 1 cân, Hồng tiêu (bỏ mắt) 240g, tán bột, trộn với nước Địa
hoàng, làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 50
viên với nước trước khi đi ngủ (Song Mỹ Hoàn - Thụy Trúc Đường
Kinh Nghiệm phương)
+ Trị đinh nhọt sưng đau: rễ Cúc
hoa 1 nắm, gĩa nát, vắt lấy nước uống (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).
+ Cam cúc hoa là thuốc chính
trong việc khu phong, phong mộc thông với can, can khai khiếu ở
mắt, vậy nó là thuốc chủ yếu trị sáng mắt, thường dùng với Địa
hoàng, Hoàng Bá, Câu kỷ tử, Bạch tật lê, Ngũ vị tử, Sơn thù du,
Đương quy, Linh dương giác, Gan dê (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
+ Trị Can Thận đều hư, mắt đau,
thêm Quyết minh tử, Mộc tặc thảo, Cốc tinh thảo, Sài hồ, có thể
khử màng mộng ở mắt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị mắt đau do phong nhiệt: Cúc
hoa, Hoàng liên, Hoàng cầm, Cam thảo, Sinh địa hoàng, Kinh giới
tuệ, Quyết minh tử, Liên kiều, Cát cánh, Sài hồ, Xuyên khung,
Khương hoạt, Đồng tiện (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Tri nhức đầu do huyết hư: Cúc
hoa, Xuyên khung, Tế tân, Cảo bản, Đương quy, Sinh địa, Thục địa
hoàng, Thiên môn, Mạch môn, Bạch thược dược, Cam thảo, Đồng tiện
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cúc hoa cùng với Câu kỷ tử, 2
vị bằng nhau, trộn với mật làm viên uống thì phòng được bệnh mắt,
trúng phong và đinh nhọt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị đinh nhọt: Cam cúc để
nguyên cả rễ, dùng sống, Tử hoa đia đinh, Ích mẫu thảo, Kim ngân
hoa, Bán chi liên, Bối mẫu, Lên kiều, Sinh địa hoàng, Qua lâu
căn, Bạch chỉ, Bạch cập, Thương nhĩ tử, Hạ khô thảo. Nếu bệnh
nặng quá thì dùng ‘Thiềm Tô Hoàn’ để phát hãn. Nếu táo bón sau
khi ra mồ hôi: dùng ‘Ngọc Xu Đơn’ để uống cho hạ, nếu không có
Ngọc Xu Đơn, lấy Đại kích thêm Tảo hưu, Táo nhục làm viên, uống
12g sẽ xổ ngay. Kiêng Cam thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị phong ôn giai đoạn đầu, hơi
lạnh, sốt, hoa mắt, chóng mặt, mắt đỏ, mắt đau: Cúc hoa 12g,
Tang diệp 8g, Câu đằng 8g, Liên kiều 4g, Cát cánh 8g, Cam thảo
4g, Xa tiền thảo 12g. Sắc uống (Tang Cúc Câu Liên Hợp Tễ Gia
Giảm - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị phong nhiệt do Can kinh,
mắt đỏ, mắt sưng đau: Cúc hoa 12g, Bạch tật lê 12g, Khương hoạt
2g, Mộc tặc 12g, Thuyền thoái 3,2g. Sắc uống (Cúc Hoa Tán - Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị Can Thận đều hư, nhìn kém:
Thục địa 20g, Sơn dược 16g, Phục linh, Trạch tả, Đơn bì, Sơn thù
du, Cúc hoa, Câu kỷ mỗi thứ 12g, tán bột, trộn mật làm viên uống
(Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị đinh nhọt, mụn nhọt có mủ:
Bạch cúc hoa 160g, Cam thảo 20g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
+ Cúc hoa cho lá gọi là Cúc diệp,
có tác dụng thanh phong, khử nhiệt, làm khỏi nóng nảy, tính
giống Cúc hoa, nhưng khác vị đắng, có sức hạ giáng mạnh hơn và
thanh phần bất cập, Can Đởm hỏa vượng, có thể bỏ chung vào thuốc
sắc. Tác dụng tiết giáng đ được phong hỏa ẩn ở bên trong thì
mạnh hơn Cúc hoa, dùng từ 4 – 12g. Có thể dù ng các loại hoa Cúc,
nhưng lá Cúc dại thì đắng, có thể gĩa nát đắp vào những nơi đinh
nhọt, nhiệt độc, không nên sắc uống (Bản Kinh Phùng Nguyên).
+ Cúc hoa chữa được bệnh ở đầu,
mặt, tai, mắt, chóng mặt, váng đầu, phong nhiệt, mắt đau, nhức
trong đầu, phong chạy quanh, thông lợi huyết mạch, khi dùng
không kiêng cữ gì cả (Dược Tính Bản Thảo).
+ Cúc hoa cho vào trong bao làm
gối thì làm cho sáng mắt; phòng bệnh mắt, lá dùng tốt, sống chín
đều được (Chư Gia Bản Thảo).
+ Cúc hoa nuôi huyết, làm sáng
mắt, có thể đánh tan mộng thịt ở mắt (Trân Châu Nang).
+ Cúc hoa là vị thuốc cốt yếu về
khư phong thanh nhiệt. Vị đắng có thể tiết được nhiệt độc. Vị
ngọt ích được cho huyết. Vả lại, vị ngọt cũng có thể giải được
độc. Vì khí bình lại kèm cả cay nên tiêu được kết. Vị đắng nên
nó nhập và Tâm và Tiểu trường, vị ngọt nhập vào Tỳ Vị. Bì nh,
cay vào Can Đởm và Phế, Đại trường. Uống lâu ngày thì nhẹ người,
sống lâu. Vì những gì chứa được lâu thì sức nó chuyên hơn . Một
khi sức đã chuyên thì làm cho khí phận tiêu hóa, khi khí đã tiêu
hóa thì sự biến chuyển không ngừng. Một bằng chứng cụ thể là ai
đã cất rượu Cúc để dùng thì khỏe mạnh và sống lâu, nếu trộn th
uốc uống làm cho nhan sắc xinh tươi. Nhưng những cái hay đó phải
tự chuyên chú về khí hóa thì mới đạt được kết quả. Vì thế, trong
sách Tiên kinh cũng ghi lại những công hiệu của Cúc hoa, nhưng
thực ra bao gồm ý cho rằng đó là một vị thuốc của thần tiên nữa
(Bản Thảo Đơn Phương).
+ Cúc hoa, Cam cúc hoa có vị
ngọt, tính bình, vào kinh Phế, Thận, làm thanh sảng được đầu và
mắt cảm phải khí phong nhiệt. Nó trị được chóng mặt, xoay
xẫm, thông huyết mạch, yên trường vị, tươi
nhan sắc, khỏi đau mắt, đau lưng, mộng thịt ở mắt, chảy nước mắt
sống. Đó là một loại thuốc quý vậy (Bản Thảo Đồ Giải).
+ Hoa cúc hình tròn, nâng cao
phẩm giá ngụ ý đạo đức của trời cao sang, quý hóa. Hoa cúc màu
vàng theo sắc thái của đất (tỳ thổ). Hoa cúc trồng sớm mà nở
chậm, đại biểu cho đức của người quân tử. Nở vào giữa mùa sương
tuyết hiểm nguy, có ý tượng trưng cho đức kiên trinh. Vị hòa mà
thể nhẹ, tượng trưng phảng phất thực phẩm của thần tiên. Vì tính
hơ'i ngọt nên công dụng dồi dào, vì vị đắng nên chữa đinh nhọt,
vì màu trắng nên được khí phận, có màu hồng nên vào được huyết
phần. Ôi, Cúc hoa kiêng lửa khi dùng nhặt bỏ núm bỏ đế đi, đạp
cho ra nước, phơi khô mà dùng. Nếu muốn thành bột thì chờ lúc
khô tán sẽ dễ dàng (Bản Thảo Thông Nguyên).
+ Cúc hoa bẩm thụ khí mùa thu khá
trong sáng, chờ đúng thời kỳ mới nở nhụy khai hoa vì thế nó chịu
được chính khí của hành Kim. Cúc hoa có tính bình hòa, là vị
thuốc thanh. Trong ‘Nội Kinh' nói rằng khi chữa bệnh ôn, nên
dùng những vị thanh. Khi những bệnh nhiệt đã lui rồi, chính khí
vẫn còn ấm thì nên dùng Cúc hoa và Tang căn bạch bì để chữa nhức
đầu và trừ những chỗ tà nhiệt còn sót lại, rồi lại mượn sức của
Hoàng kỳ để chữa chứng váng đầu, tan màng mộng mắt. Nếu kết hợp
Sa sâm thì chữa được hạ huyết, kết hợp với Thạch hộc, Biển đậu
có tác dụng làm sáng mắt, thính tai, nó có thể điều hành đi suốt
khắp tay chân. Những người bị đau đầu, choáng váng, hắt hơi,
nghẹt mũi do nhiệt, những chứng ngoài da nổi ban, ngứa tay chân,
vai đau do phế nhiệt gây ra, nên dùng Cúc hoa để thanh nhuận tâm
phế thì mới ổn. Khi đã thanh nhuận được tâm phế thì can mộc tự
nhiên như đă có gì chế ngực thì nhiệt phải
rút lui. Khi dùng Cúc hoa để chữa chứng đau mắt đỏ, sưng đau,
chói, cộm, nước mắt sống chảy, nên dùng Cúc hoa để thanh phế mà
chế được can mộc, đây là điều rất huyền diệu (Biện Dược Chỉ
Nam).
+ Theo Vương Tử Kiều, dùng Cam
cúc lâu ngày giúp tăng tuổi thọ: Cam cúc chọn hái mầm non vào
ngày Thượng dần tháng 3 gọi là ‘Ngọc anh’. Chọn lá vào ngàỵ
Thượng dần tháng 6 gọi là ‘Dung thành’, chọn hoa vào ngày Thượng
dần tháng 9 gọi là ‘Kim tinh", hái thân rễ vào ngày Thượng dần
tháng chạp gọi là ‘Trường sinh’. Bốn loại đó đều phơi âm can 5
ngày, rồi lấy mỗi thứ bằng nhau làm thành một chỗ, gĩa nát, tán
bột. Mỗi ngày uống 4g với rượu hoặc dùng mật chế thành viên to
bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 7 viên với rượu, ngày 3 lần,
uống liên tục 100 ngày rất tốt . Theo ‘Thực Liệu Bản Thảo’ thì
chọn lá vào tháng giêng, chọn thân vào mồng 5-5, chọn hoa vào
mồng 9 - 9 (Ngọc Hàm Phương).
+ Cúc hoa cho rượu cất gọi là Cúc
hoa tửu, dùng hoa sắõc lấy nước cốt, dùng nước đó thổi cơm nếp,
ủ men làm rượu uống, có thể thêm Địa hoàng, Đương quy, Câu kỷ
rất tốt. Rượu này chữa được chứng đầu
phong, sáng mắt, phòng bệnh, yếu gân (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
+ Cúc hoa nói chung thiên về
thanh nhiệt, bình Can. Dã cúc hoa thiên về tiết nhiệt, giải độc
(Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Phòng phong trừ được phong ở
các khớp xương, thiên về phong hàn. Cúc hoa trừ được chứng du
phong trên người, thiên về phong nhiệt (Đông Dược Học Thiết
Yếu).
Cúc hoa, Tác dụng
Cúc hoa, Cúc hoa vị thuốc quí, Cúc hoa và sức khỏe, cách dùng Cúc hoa, mua
Cúc hoa, nơi bán Cúc hoa, mua bán Cúc hoa, giá cả Cúc hoa, công năng Cúc hoa,
nơi mua cuc hoa, cuc hoa, tac dung cua cuc hoa, cuc hoa vi thuoc qui, cuc hoa
và suc khoe, cach dung cuc hoa, mua cuc hoa, noi ban cuc hoa, mua ban
cuc hoa, gia ca cuc hoa, cong nang cuc hoa, nơi mua cuc hoa, cuchoa, tac dung
cuchoa, baithuoc co cuchoa, cach dung cuchoa, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP