Chua ngút, Dây chua méo, Dây ngút, Cây thùn mùn -
Embelia ribes Burm f. thuộc họ Ðơn nem -Myrsinaceae.
Mô tả: Cây bụi leo
cao 1-2m, có thể đến 7m, hay hơn. Trục cụm hoa,
cuống hoa, lá bắc và lá đều có lông, màu hơi trắng.
Thân màu nâu đỏ hay nâu sẫm, hơi có khía dọc. Lá mọc
so le, thuôn, gốc tròn hoặc có góc, có mũi nhọn ngắn
hay tự ? đầu, nguyên, nhẵn, cuống lá lõm ở mặt trên.
Hoa nhiều nhỏ, màu vàng lục, xếp thành chùm ở ngọn.
Quả hạch hình cầu, màu đỏ sẫm, lẫn những điểm màu lơ,
dài và rộng khoảng 2,5mm, vỏ quả thường nhăn nheo.
Cây ra hoa tháng 2-4, có quả tháng 3-10.
Bộ phận dùng: Quả, rễ,
lá - Fructus, Radix et Folium Embeliae.
Nơi sống và thu hái:
Cây của vùng Ấn Độ, Malaixia mọc hoang phổ biến ở
những nơi có nhiều ánh sáng, ven rừng hoặc trên đồi
ở khắp cao độ của nước ta. Thu hái quả vào mùa thu
khi chín, hái về xát, vỏ phơi khô lấy hạt, khi dùng
tán nhỏ. Rễ lấy về rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô. Lá
dùng tươi làm rau ăn.
Thành phần hoá học:
Quả chứa tanin, hợp chất anthraquinon, tinh dầu, dầu
béo và 2-3% embelin (embelic acid). Ở Ấn Độ người ta
đã tìm thấy trong quả có embelin 2,5-3, quercitol
1-0 và thành phần chất béo là 5,2%, một alcaloid là
christembin, một resinoid và phần hay hơi. Trong lá
có caroten 4,6mg% và vitamin C 62,5mg%.
Tính vị, tác dụng:
Chua ngót có vị ngọt, tính mát, có tác dụng kháng
sinh, sát trùng. Thân cây có vị ngọt, tính mát có
tác dụng bổ huyết. Người ta đã biết được tác dụng
trừ giun sán, làm se, gây trung tiện, tăng chuyển
hoá và kích thích giải khát và bổ của quả. Cao lỏng
của quả có tác dụng kháng khuẩn Staphylococcus
aureus và Escherichiacoli; cao này cũng có tác dụng
co bóp tử cung, có tác dụng trên chức năng nội tiết
sinh dục và khả năng sinh sản.
Công dụng, chỉ định
và phối hợp: Lá non của Chua ngút thường được dùng
nấu canh chua và cũng dùng trị rắn cắn (nhai lá tươi
nuốt nước lấy bã đắp). Quả có vị chua ăn được, có
tác dụng giải khát, cũng thường được dùng trị giun,
nhất là giun đũa, giun kim. Thân cây dùng trị ban
trái, bạch đới. Người ta cho người bệnh uống 5g (trẻ
em 2-2,5g) bột quả trộn với đường hay mật vào buổi
sáng sớm (sau khi đã nhịn ăn tối hôm trước). Ở Ấn Độ
người ta dùng làm thuốc trị giun, dưới dạng bột uống
với sữa, sau đó uống thuốc tẩy. Nước sắc quả khô làm
thuốc hạ sốt và trị bệnh về ngực và da. Quả khô Chua
ngút cũng là thành phần của những chế phẩm chữa bệnh
nấm da loang vòng và các bệnh da khác; cũng được
dùng trị vết đốt của bò cạp và rắn cắn. Nước hãm rễ
dùng trị ho và ỉa chảy.