Vị
thuốc chỉ thưc còn goi Trấp, Chấp, Kim quất,
Khổ chanh, Chỉ thiệt, trái non của quả Trấp.
Tác
dụng:
+ Tả đờm, hoạt khiếu, tả khí (Bản
Thảo Diễn Nghĩa).
+ Tả Vị thực, khai đạo kiên kết,
tiêu đờm tích, khứ đình thủy, thông tiện bí, phá kết hung (Dược
Phẩm Hóa Nghĩa).
+ Hành khí trệ, tan đờm, dẫn khí
xuống qua đường đại tiện (Trung Dược Học).
+ Phá khí, tiêu tính, đồng thời
có tác dụng tả đàm, trừ bỉ tích, hành khí (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).
Tính
vị:
+ Vị đắng, tính hàn (Bản Kinh).
+ Vị chua, hơi hàn, không độc (Biệt
Lục).
+ Vị đắng, cay (Dược Tính Bản
Thảo).
+ Vị đắng, tính hơi hàn (Trung
Dược Học).
+ Vị đắng, tính hơi lạnh. (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Quy
kinh:
+ Vào kinh Vị, Tỳ (Bản Thảo Kinh
Sơ).
+ Vào kinh Tâm Tỳ (Lôi Công Bào
Chế Dược tính Giải).
+ Vào kinh Can, Tỳ (Bản Thảo Tái
Tân).
+ Vào kinh Tỳ, Vị (Trung Dược Học).
+ Vào kinh Tỳ, Vị (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Chủ
trị:
+ Trị ngực bụng căng đầy, thực tích đàm trệ, đại tiện không
thông (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Liều dùng: Dùng từ 4 – 12g.
Kiêng
kỵ:
+ Tỳ Vị hư yếu, phụ nữ có thai,
không nên dùng (Trung Dược Học).
+ Không có khí trệ thực tà, tỳ vị
hư hàn mà không có thấp và tích trệ thì cấm dùng: Sức yếu và đàn
bà có thai nên thận trọng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
TÌM HIỂU SÂU THÊM
VỀ CHỈ THỰC
Tên
gọi:
Chỉ có nghĩa là tên cây, thực là
quả, nên gọi là Chỉ thực.
Chỉ thực là quả trấp hái vào lúc
còn non nhỏ của cây Citrus Hystric D.C cây nhỡ rậm lá, có gai
dài. Lá đơn mọc so le, hình bầu dục, dài 7-10cm. Hoa năm cánh
trắng, thơm. Quả có vỏ sù sì, màu vàng nhạt, vỏ dày, vị đắng
nhiều hạt (Xem thêm Chỉ xác).
Phân
biệt:
(1) Chỉ thực và Chỉ xác đều là
quả phơi khô của hơn 10 cây của chi Citrus và Poncirus học Cam (Rutaceae)
nhưng thu hái ở hai thời kỳ khác nhau. Chưa xác định được tên
chính xác. Ở Trung Quốc còn dùng Chỉ thực hoặc Chỉ xác với nhiều
cây khác nhau như cây Câu kết, Chỉ (Poncirus trifolia Raf), cây
Hương viên (Citrus wilsonii Tanaka), cây Toàn đăng hay Câu đầu
đăng, Bì đầu đăng (Citrus aurantium L) cây Đại đại hoa (Citrus
aurantium L Var Amara Engl). Có nơi còn dùng quả Bưởi non
(Citrus grandis Osbeck) bổ đôi, phơi khô để làm Chỉ thực và Chỉ
xác.
(2) Chỉ thực gồm các quả nguyên
hình cầu và quả bổ đôi hình bán cầu, đó là quả nguyên đường kính
0,5-1cm, vỏ ngoài màu nâu đen, có vết tích của cuống quả, bên
phía đối diện có một chấm nhỏ lồi là vết tích vòi nhụy đã rụng.
Quả bổ đôi đường kính 0,5-1cm, vỏ ngoài màu nâu đen, có vết tích
của cuống quả, bên phía đối diện có một chấm nhỏ lồi là vết tích
vòi nhụy đã rụng. Quả bổ đôi đường kính 1-1,5cm. Mắt cắt ngang
có một vòng vỏ quả ngoài mỏng, màu nâu, sát vỏ có các túi tinh
dầu lỗ chỗ, một lớp cùi màu gà vàng hoặc vàng nâu nhạt, hơi lồi
lên, giữa là ruột màu đen nâu, có những múi hình tia nan hoa
bánh xe. Có chất cứng chắc, vị đắng chát, mùi thơm nhẹ.
Địa
lý:
Cây mọc hoang ở Nghệ Tĩnh, Cao
lạng, Hà Bắc, Thanh Hóa.
Thu hái, sơ chế: Vào tháng 4-6
lúc trời khô ráo, thu nhặt các quả non rụng dưới gốc cây thì
được Chỉ thực. Dùng quả có đường kính dưới 1cm thì để nguyên,
quả có đường kính trên 1cm thì bổ đôi theo chiều ngang, khi dùng
rửa sạch đất bụi, ủ mềm, xắt lát hay bào mỏng, sao giòn.
Phần
dùng làm thuốc:
Quả non rụng phơi khô.
Mô
tả dược liệu:
Chỉ thực gồm các quả nguyên hình
cầu và quả bổ đôi hình bán cầu. Quả nguyên đường kính 0,5-1cm,
vỏ ngoài màu nâu đen, có vết tích của cuống quả, bên phía đối
diện có một chấm nhỏ lồi là vết tích vòi nhụy đã rụng. Quả bổ
đôi đường kính 1-1,5cm. Mặt cắt ngang có một vòng vỏ quả ngoài
mỏng, màu nâu, sát vỏ có một vòng vỏ quả ngoài mỏng, màu nâu,
sát vỏ có một túi tinh dầu lỗ chỗ, một lớp cùi màu ngà vàng hoặc
vàng nâu nhạt, hơi lồi lên, giữa là ruột màu đen nâu, có những
múi hình tia nan hoa bánh xe. Chất cứng chắc, vị đắng mát, mùi
thơm nhẹ. Nếu loại vỏ mỏng là Cẩu quất (quít). Dùng thứ quả gần
chín, còn xanh vỏ, đã bổ đôi, cùi càng dầy càng tốt, mùi thơm,
ruột bé trắng ngà, để lâu năm cứng chắc không ẩm mốc là tốt. Quả
nhỏ, vỏ dày, trong đặc, chắc, nhiều thịt, nhỏ ruột không mốc,
mọt là tốt. Thứ to nhiều ruột là xấu.
Loại sản xuất ở Tứ Xuyên vỏ ngoài
màu xanh lục, mặt trong màu trắng vàng, dày vỏ, cứng, mùi thơm
hơi đắng lá thượng phẩm.
Loại sản xuất ở Giang Tây màu hơi
đen có dạng nốt ruồi lồi lên, thịt nỏ dày cứng chắc, mùi nồng
nặc cũng tốt. Loại sản xuất ở Giang Tô vỏ ngoài mau xanh lục đậm,
hơi vàng, thô hơn, chất nhẹ, mùi vị nhẹ, xấu hơn.
Bào
chế:
Giấp nước vào cho mềm, moi bỏ
các múi và hạt ở trong rồi xắt nhỏ phơi khô sao với gạo nếp hoặc
cám (rồi bỏ cám đi), có khi sao cháy tồn tính rồi tán bột.
Cách
dùng:
Sao dòn có tác dụng tiêu tích, hạ
khí, trừ đàm giúp tiêu hóa, sao tồn tính có tác dụng cầm máu.
Chỉ thực để lâu năm càng tốt.
Bảo
quản:
Để nơi khô ráo, tránh ẩm.
Thành
phần hóa học:
+ Hesperidin, Neohesperidin,
Naringin (R F Albach và cộng sự, Phytochemistry 1969, 8 (1):
127).
+ Vỏ quả chứa chất dầu 0,469%,
trong đó có a-Pinene, Limonene, Camphene, g-Terpinene, p-Cymene,
Caryophyllene (Nobile Luciano và cộng sự, C A 1969, 70: 31620b).
Tác
Dụng Dược Lý:
. Chỉ thực và Chỉ xác đều có tác
dụng cường tim, tăng huyết áp do thành phần chủ yếu là
Neohesperidin nhưng không làm tăng nhịp tim. Thuốc có tác dụng
co mạch, tăng lực cản của tuần hoàn ngoại vi, tăng co bóp của cơ
tim, tăng lượng cGMP của cơ tim và huyết tương nơi chuột nhắt.
Chỉ thực còn có tác dụng tăng lưu lượng máu của động mạch vành,
não và thận, nhưng máu của động mạch đùi lại giảm (Trung Dược
Học).
+ Nước sắc Chỉ thực và Chỉ xác
đều có tác dụng ức chế cơ trơn ruột cô lập của chuột nhắt, chuột
lang và thỏ, nhưng đối với chó đã được gây rò dạ dày và ruột thì
thuốc lại có tác dụng hưng phấn làm cho nhịp co bóp của ruột và
dạ dày tăng. Đó cũng là cơ sở dược lý của thuốc dùng để trị
chứng dạ dày sa xuống, dạ dày gĩan, lòi dom, sa trực trường...
Kết quả thực nghiệm cho thấy Chỉ thực và Chỉ xác vừa có tác dụng
làm giảm trương lực cơ trơn của ruột và chống co thắt, vừa có
thể hưng phấn làm tăng nhu động ruột, do trạng thái chức năng cơ
thể, nồng độ thuốc và súc vật thực nghiệm khác nhau mà có tác
dụng cả hai mặt ngược nhau, như vậy dùng thuốc để điều chỉnh sự
rối loạn chức năng đường tiêu hóa ở trạng thái bệnh lý là tốt (Trung
Dược Học).
+ Nước sắc Chỉ thực và Chỉ xác có
tác dụng hưng phấn rõ rệt đối với tử cung thỏ có thai hoặc chưa
có thai, cô lập hoặc không, nhưng đối với tử cung chuột nhắt cô
lập lại có tác dụng ức chế.tác dụng hưng phấn tử cung của thuốc
phù hợp với kết quả điều trị chứng tử cung sa có kết quả trên
lâm sàng (Trung Dược Học).
+ Chỉ thực có tác dụng lợi tiểu,
chống dị ứng. Chất Glucozit của Chỉ thực có tác dụng như Vitamin
P làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch (Trung Dược Học).
Đơn
thuốc kinh nghiệm
+ Trị ngực đau tức, đau cứng dưới
tim, đau xóc dưới sườn lên tim: Chỉ thực (lâu năm) 4 trái, Hậu
phác 120g, Phỉ bạch 240g, Qua lâu 1 trái, Quế 30g, nước 5 thăng.
Trước hết sắc Chỉ thực, Hậu phác, lấy nước bỏ bã, xong cho các
thứ thuốc khác vào sắc, chia làm 3 lần uống (Chỉ Thực Phỉ Bạch
Thang - Kim Quỹ Yếu Lược Phương).
+ Trị đau nhức trong ngực (Hung
tý thống): Chỉ thực tán bột uống với nước lần 12g, ngày 3 lần,
đêm 1 lần (Trửu Hậu Phương).
+ Trị bôn đồn khí thống: Chỉ thực
sao, tán bột, mỗi lần uống 12g, ngày 3 lần, đêm 1 lần (Ngoại Đài
Bí Yếu).
+ Trị phong chẩn ngoài da: Chỉ
thực tẩm giấm, sao, chườm vào (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị sa trực trường do lỵ: Chỉ
thực, mài trên đá cho nhẵn, rồi sao với mật ong cho vàng, chườm
vào cho đến khi rút lên (Thiên Kim Phương).
+ Trị trẻ nhỏ lở đầu: Chỉ thực
đốt cháy, trộn mỡ heo bôi vào (Thánh Huệ Phương).
+ Trị ngực đau do thương hàn, sau
khi đau bụng hàn giữa ngực bỗng nhiên đau ngột: Chỉ thực sao với
cám, tán bột, mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần (Tế Sinh Phương).
+ Trị sinh xong bụng đau: Chỉ
thực sao cám, Thược dược sao rượu, mỗi thứ 8g, sắc uống hoặc tán
bột uống (Tế Sinh Phương)
+ Trị âm hộ sưng đau cứng: Chỉ
thực 240g, gĩa nát, sao, gói trong bao vải, chườm lên chỗ đau,
khi nguội sao chườm tiếp (Tử Mẫu Bí Lục Phương).
+ Trị táo bón: Chỉ thực, Tạo giáp
2 vị bằng nhau, tán bột, trộn với hồ bột làm thành viên uống (Thế
Y Đắc Hiệu Phương).
+ Trị trẻ nhỏ bị các loại trĩ
kinh niên: Chỉ thực tán bột, luyện với mật ong làm viên to bằng
hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên lúc đói (Tập Nghiệm Phương).
+ Chỉ thực kết hợp với Tam lăng,
Nga truật, Thanh bì, Bình lang có tác dụng mòn tiêu tích khối
cứng chắc, nhưng chỉ dùng cho những người tỳ vị mạnh, ăn được
còn sức khỏe (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị trường vị tích nhiệt, bụng
căng đầy, táo bón: Chỉ thực, Bạch truật, Phục linh, Thần khúc,
Trạch tả, Đại hoàng mỗi thứ 12g, Hoàng liên 4g, Sinh khương 8g,
Hoàng cầm 8g. Tán bột làm viên hoặc sắc uống (Chỉ Thực Đạo Trệ
Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị khí huyết tích trệ sau khi
sinh, đau bụng, đầy tức không yên: Chỉ thực 12g, Bạch thược 12g,
tán bột hoặc sắc uống (Chỉ Thực Thược Dược Tán - Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị tức ngực, bụng đầy, tiêu
hóa kém: Chỉ thực, Bạch truật, mỗi thứ 12g sắc uống (Chỉ Truật
Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị đầy tức dưới tim, ăn uống
không ngon, tinh thần mệt mỏi, hoặc tiêu hóa kém, đại tiện không
thoải mái: Chỉ thực, Hoàng liên, mỗi thứ 20g, Hậu phác 16g, Can
khương 4g, Chích cam thảo, Mạch nha, Phục linh, Bạch truật, mỗi
thứ 8g, Bán hạ khúc, Nhân sâm, mỗi thứ 12g, tán bột, làm thành
viên. Mỗi lần uống 2-12g, ngày 3 lần (Chỉ Truật Thang - Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
. Cây Trấp còn cho rễ cây gọi là
“Chỉ thụ căn bì” dùng ngâm rượu súc miệng để trị đau răng rất
hay, hoặc dùng vỏ rễ nấu nước sắc uống trị chứng tiêu ra máu (Bản
Thảo Thập Di).
. Cạo lấy vỏ rễ cây, vỏ non trong
cây, vỏ cành gọi là ‘Chỉ thụ nhự’ thân cây và vỏ trị thủng húp,
bạo phong đau nhức khớp xương. Nó chữa được chứng trúng phong
liệt, méo miệng, trong lúc chưa dùng thuốc gì nên cạo lấy vỏ da
cây ngâm với rượu 1 đêm khi uống hâm nóng (Bản Thảo Đồ Kinh).
. Muốn khai khí giữa ngực thì
dùng Chỉ xác, khai khí ở dưới bụng thì dùng Chỉ thực. Chữa khí
trệ thì dùng Chỉ xác, chữa khí kết thì dùng Chỉ thực. Duy cổ ngữ
có nói Chỉ xác trị khí, Chỉ thực trị huyết, nhưng xét ra khí
hành thì huyết thông, 2 vị đều là thuốc lợi khí chứ không phải
là thuốc thông huyết. Cho nên dùng Chỉ thực với Bạch truật thì
điều hòa được Tỳ mà dùng với Đại hoàng thì thúc đẩy được khí.
Nếu người khí hư trướng mà dùng Chỉ thực thì không khác gì ôm
củi mà chữa cháy (Bản Thảo Cầu Chân).
. Chỉ thực
vị đắng, cay, chua, hơi hàn, không độc, nhập vào kinh Túc dương
minh và Túc thái âm. Tính phù mà lại giáng xuống, hoàn
toàn là dương dược, quả nhỏ mà tính mạnh, chữa phần dưới nhanh
chóng, chủ về huyết. Phàm chứng ngực bụng bị đẩy trướng, phiền
muộn, chất ăn cũ tích tụ, đờm đặc tích huyết, thì nó có công
khai thông phá kết mau chóng, làm cho đổ vách xuyên tường. Dùng
với Bạch truật trị chứng bỉ thuộc hư, nhưng tính nó dữ tợn, sức
nó mạnh, người không có đình trệ kiêm tích thì chớ có dùng bừa
bãi mà hại tới nguyên khí. Ông Vương Hải Tàng nói: bổ khí thì
lấy Sâm, Truật, Can khương làm tá, để phá khí lấy Khiên ngưu,
Mang tiêu, Đại hoàng làm tá (Dược Phẩm Vựng Yếu).
. Cây còn cho lá non gọi là ‘Chỉ
thụ nộn diệp’ sắc uống thay nước trà trị các chứng phong, trục
phong (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Chỉ thực, Tác dụng
Chỉ thực, Chỉ thực vị thuốc quí, Chỉ thực và sức khỏe, cách dùng Chỉ thực, mua
Chỉ thực, nơi bán Chỉ thực, mua bán Chỉ thực, giá cả Chỉ thực, công năng Chỉ thực,
nơi mua chithuc, chithuc, tac dung cua chithuc, chithuc vi thuoc qui, chithuc
và suc khoe, cach dung chithuc, mua chithuc, noi ban chithuc, mua ban
chithuc, gia ca chithuc, cong nang chithuc, nơi mua chithuc, chi thuc, tac dung
chi thuc, baithuoc co chi thuc, cach dung chi thuc, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP