+ Chuyên bổ thận, nhuận phế, sinh
tân, ích khí, là thuốc chủ yếu bổ can thận chân âm bất túc, là
thuốc tốt để ích tinh, minh mụ c... (Bản Thảo Kinh Sơ)
+ Kỷ tử có tác dụng tư bổ can
thận, sinh tinh huyết, minh mục, nhuận phế (Trung Dược Học).
+ Tư dưỡng Can Thận (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Chủ
trị:
+ Trị xoay xẫm,
chóng mặt do huyết hư, thắt lưng đau, di tinh, tiểu đường (Trung
Dược Học).
+ Trị các chứng can thận âm hư,
âm huyết hư tổn, chứng tiêu khát, hư lao, khái thấu (Sổ Tay Lâm
Sàng Trung Dược).
Liều
dùng:
8 – 20g.
Kiêng
kỵ:
+ Câu kỷ tử có tính chất nê trệ,
vì vậy, thận trọng đối với những bênh nhân tỳ vị hư yếu, tiêu
chảy kéo dài (Trung Dược Học).
+ Tỳ vị suy nhược, tỳ hư thấp trệ
tiêu chảy cấm dùng, có ngoại tà thực nhiệt cấm dùng (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sá
TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ CÂU KỶ TỬ
Tên
Hán Việt khác:
Vị thuốc câu KỶ TỬ CÒN GỌI Cẩu kế tử (Nhĩ Nhã), Cẩu cúc tử (Bản
Thảo Diễn Nghĩa), Khổ kỷ tử (Thi Sơ), Điềm thái tử (Bản Thảo Đồ
Kinh), Thiên tinh tử (Bảo Phát), Địa cốt tử, Địa tiết tử (Bản
Kinh), Địa tiên tử (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Khước lão tử, Dương
nhủ tử, Tiên nhân trượng tử, Tây vương mẫu trượng tử, Cẩu kỵ tử,
(Biệt Lục), Xích bảo, Linh bàng tử, Nhị thi lục, Tam thi lục,
Thạch nạp cương, Thanh tinh tử, Minh nhãn thảo tử, Tuyết áp san
hô (Hòa Hán Dược Khảo).
Tên
khoa học:
Fructus Lycii.
Họ
khoa học:
Thuộc họ Cà (Solanaceae).
Mô
tả:
Là cây bụi mọc đứng, phân cành
nhiều, cao 0,5-1,5m. Cành mảnh, thỉnh thoảng có gai ngắn mọc ở
kẽ lá. Lá nguyên nhẵn, mọc cách, một số mọc vòng, cuống lá ngắn,
phiến lá hình mũi mác, hẹp đầu ở gốc. Hoa nhỏ mọc đơn độc ở kẽ
lá hoặc có một số hoa mọc chụm lại. Đài nhẵn, hình chuông, có
3-4 thùy hình trái xoan nhọn, xẻ đến tận giữa ống. Tràng màu tím
đỏ, hình phễu, chia 5 thùy hình trái xoan tù, có lông ở mép. Nhị
5, chỉ nhị hình chỉ đính ở đỉnh của ống tràng, dài hơn tràng.
Bầu có 2 ô, vòi nhụy nhẵn dài bằng nhụy, đầu nhụy chẻ đôi. Quả
mọng hình trứng, khi chín màu đỏ sầm, hoặc vàng đỏ. Hạt nhiều
hình thân dẹp. Ra hoa từ tháng 6-9, có quả từ tháng 7-10.
Địa
lý:
Có nhiều ở Trung Quốc nước ta còn
phải nhập, có ở các tỉnh biên giới Việt Nam như Quảng Đông,
Quảng Tây, Vân Nam.
Phần dùng làm thuốc: Dùng quả khô
rụng (Fructus Lycii).
Mô
tả dược liệu:
Quả khô Câu kỷ tử hình bầu dục
dài khoảng 0,5-1cm, đường kính khoảng hơn 0,2cm. Vỏ quả màu tím
đỏ hoặc đỏ tươi, mặt ngoài nhăn teo bên trong có nhiều hạt hình
tạng thận màu vàng, có một đầu có vết của cuống quả, không mùi,
vị ngọt hơi chua, sau khi nếm nước bọt có màu vàng hồng. Loại
sản xuất ở Cam túc có quả tròn dài, hạt ít, vị ngọt là loại tốt
nhất nên gọi là Cam kỷ tử hay Cam câu kỷ (Dược Tài Học).
Thu
hái, sơ chế:
Hái quả hàng năm vào tháng 8-9,
phơi khô. Khi quả chín đỏ hái vào sáng sớm hoặc chiều mát, trải
mỏng, phơi trong râm mát cho đến khi bắt đầu nhăn mới phơi chỗ
nắng nhiều cho đến khi thật khô.
Bào
chế:
+ Lựa thứ quả đỏ tươi, tẩm rượu
vừa đều để một hôm, gĩa dập dùng.
+ Thường dùng sống, có khi tẩm
rượu sấy khô, hoặc tẩm mật rồi sắc lấy nước đặc, sấy nhẹ cho khô,
đem tán bột mịn.
Bảo
quản:
Đựng vào lọ kín để nơi khô ráo,
nếu bị thâm đen đem xông diêm sinh hoặc phun rượu, xóc lên sẽ
trở lại màu đỏ đẹp
hành
phần hóa học:
+ Thành phần chủ yếu có Betain,
nhiều loại axit amin, polysaccharid, vltamin B1, B2, C, acid
nicotinic, Ca, P, Fe.. . (Trung Dược Học).
+Trong Kỷ tử có chừng 0,09% chất
Betain (C5H11O2N) (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trong 100g quả có 3,96mg
Caroten, 150mg Canxi, 6,7mg P, 3,4mg sắt, 3mg Vit C, 1, 7mg axit
nicotic, 0,23mg Amon sunfat (Từ Quốc Quân và Triệu Thủ Huấn)
+ Trong Khởi tử có Lysin, Cholin,
Betain, 2,2% chất béo và 4,6% chất Protein, Acid cyanhydric và
có thể có Atropin (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Valine, Glutamine, Asparagine (Nishiyama
R, C A 1963, 59 (11): 13113b).
+ Trong 100g Câu kỷ tử có
Carotene 3,39mg, Thiamine 0,23g, Riboflavine 0,33mg, Nicotinic
acid 1,7mg, Vitamin C 3mg (Từ Quốc Quân, Dược Tài Học, Bắc Kinh
1960: 513).
Tác
dụng dược lý:
1. Thuốc có tác dụng tăng cường
miễn dịch không đặc hiệu. Trên súc vật thực nghiệm có tác dụng
tàng cường khả năng thực bào của hệ lưới nội mô, kết quả nghiên
cứu gần đây cho biết Kỷ tử có tác dụng nâng cao khả năng thực
bào của tế bào đại thực bào, tăng hoạt lực của enzym dung khuẩn
của huyết thanh, tăng số lượng và hiệu giá kháng thể, chứng tỏ
Kỷ tử có tác dụng tăng cường tính miễn dịch của cơ thể, thành
phần có tác dụng là Polysaccharide Kỷ tử (Trung Dược Học).
2. Thuốc có tác dụng tăng cường
chức năng tạo máu của chuột nhắt (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Chất Betain là chất kích thích
sinh vật, cho vào thức ăn cho gà ăn có tác dụng tăng trọng và đẻ
trứng nhiều hơn, cũng làm cho chuột nhắt tăng trọng rõ (Trung
Dược Học).
+ Thuốc có tác dụng hạ
Cholesterol của chuột cống, chất Betain của thuốc có tác dụng
bảo vệ gan chống thoái hóa mỡ, hạ đường huyết (Trung Dược Học).
+ Chất chiết xuất nước của thuốc
có tác dụng hạ huyết áp ức chế tim, hưng phấn ruột (tác dụng như
Cholin). Chất Betain không có tác dụng này (Trung Dược Học).
6. Nước sắc Kỷ tử có tác dụng
hưng phấn tử cung cô lập của thỏ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Thuốc có tác dụng ức chế ung
thư đối với chuột nhắt S180. Các học giả Nhật Bản có báo cáo năm
1979 là lá và quả Kỷ tử có tác dụng ức chế tế bào ung thư trong
ống nghiệm (Trung Dược Học).
+ Các tác giả Trung Quốc trên
thực nghiệm cũng phát hiện thuốc (lá, quả và cuống quả của Kỷ tử
(vùng Ninh Hạ) có tác dụng ức chế ở mức độ khác nhau hai loại tế
bào ung thư ở người (Trung Dược Học).
Tính
vị:
+ Tính hơi hàn, không độc (Danh Y
Biệt Lục).
+ Vị ngọt, tính bình (Dược Tính
Bản Thảo).
+ Vị hàn, không độc (Thực Liệu
Bản Thảo).
+ Vị ngọt, tính bình (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Vị ngọt, tính bình (Trung Dược
Học).
Qui
kinh:
+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, túc
Quyết âm Can (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Vào kinh túc thiếu âm Thận, thủ
Thiếu âm tâm (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Vào kinh Can, Thận, Phế (Trung
Dược Học).
+ Vào kinh Can, Thận (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị mắt đỏ, mắt sinh mộc thịt:
Câu kỷ gĩa nát lấy nước, điểm 3-4 lần vào khóe mắt, rất hiệu
nghiệm (Trửu Hậu Phương).
+ Trị mặt nám, da mặt sần sùi:
Câu kỷ 10 cân, Sinh địa 3 cân, tán bột, uống 1 muỗng với rượu
nóng, ngày uống 3 lần, uống lâu da đẹp như con nít (Thánh Huệ
Phương).
+ Trị chảy nước mắt do Can hư:
Câu kỷ tử 960g bọc trong túi lụa ngâm trong rượu, đậy thật kín,
21 ngày sau uống (Long Mộc Luận).
+ Trị Can Thận âm hư, sốt về
chiều, ra mồ hôi trộm, mắt mờ, hoa mắt, hoặc đau rít sáp trong
mắt: Câu kỷ tử, Cúc hoa mỗi thứ 12g, Thục địa 16g, Sơn dược mỗi
thứ 8g, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả mỗi thứ 6g. Tán bột trộn làm
viên. Mỗi lần uống 12g ngày 2 lần, với nước muối nhạt (Kỷ Cúc
Địa Hoàng Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Trị suy nhược vào mùa hè, không
chịu nổi với thời tiết: Câu kỷ tử, Ngũ vị tử, tán bột pha nước
sôi uống thay trà (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương).
+ Trị suy nhược, thận hư, hoa
mắt, mắt mộng thịt: Cam câu kỷ tử 1 cân, ngâm cho thấm với rượu
ngon rồi chia làm 4 phần, 1 phần sao với 40g Thục tiêu, 1 phần
sao với 40g Tiểu hồi hương, 1 phần sao với 40g Chi ma (mè), 1
phần sao với Câu kỷ không thôi. Thêm Thục địa, Bạch truật, Bạch
phục linh mỗi thứ 40g, tán bột, luyện mật làm viên uống hằng
ngày (Tứ Thần Hoàn - Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị gan viêm mạn tính, gan xơ
do âm hư: Bắc sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Đưung qui 12g, Kỷ tử
12-24g, Sinh địa 24-40g, Xuyên luyện tử 6g, sắc nước uống (Nhất
Quán Tiễn - Liễu Châu Y Thoại)
+ Trị suy nhược, thận hư, lưng
đau, gối mỏi, di tinh, huyết trắng nhiều: Thục địa 320g, Sơn
dược (sao) 160g, Câu kỷ tử 160g, Sơn thù nhục 160g, Ngưu tất
120g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giao (sao) 160g, Quy bản (sao) 160g,
tán bột, trộn mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12-16g, ngày 2-3 lần
(Tả Quy Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút,
cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục:
Thục địa 320g, Sơn thù 1690, Sơn dược 160g, Đơn bì 80g, Trạch tả
80g, Phục linh 80g, Cúc hoa 120g, Câu kỷ tử 120g. Tán bột, trộn
với mật làm hoàn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g (Kỷ Cúc Địa
Hoàng Hoàn - Y Cấp) .
+ Câu kỷ tử, Thục địa, Ngũ vị tử,
Mạch môn đông, Địa cốt bì, Thanh hoa, Miết giáp, Ngưu tất trị âm
hư lao nhiệt nóng bức rứt âm ỉ trong
xương, hoặc muốn dùng làm thuốc chính để trị phát sốt, lạnh thì
thêm Thiên môn đông, Bách bộ, Tỳ bà diệp, có thể trị được cả
chứng ho do âm hư, phế nhiệt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Câu kỷ tử, hái những quả chín
đỏ hằng ngày, tẩm giấm, rượu,rồi lấy giấy sáp phong niêm kín lại
đừng làm cho bay hơi đủ hai tháng đổ vào chậu khuấy nhừ nát lọc
lấy nước rồi ngâm với rượu. Sau đó cho vào nồi bạc nấu lửa liu
riu nhỏ, đồng thời quấy luôn để khỏi dính và đều cho tới khi
thành cao như Mạch nha, cuối cùng bỏ vào bình sạch đậy kỹ, mỗi
buổi sáng uống mỗi lần 2 muỗng canh lớn, trước khi đi ngủ, liên
tục trong 100 ngày mới thấy mạnh khỏe (Kim Tủy Tiễn - Kinh
Nghiệm Phương).
+ Câu kỷ tử 2 thăng, vào ngày
Nhâm quý tháng 10 giờ Dần, đứng quay về hướng đông mà hái rồi
lấy rượu tốt 2 thăng ngâm trong bình sứ 21 ngày xong cho vào 3
thăng nước cốt Sinh địa trộn đều, niêm lại cho thật kín, Đến
ngày 30 trước tiết Lập xuân mở bình, uống một chén hâm nóng lúc
bụng đói, đến sau tiết lập xuân râu tóc bạc thì cũng biến thành
đen. Cấm ăn hành, tỏi, su hào (Câu Kỷ Tử - Kinh nghiệm phương).
+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút,
cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Cúc
hoa 8g, Kỷ tử 20g, Nhục thung dung 12g, Ba kích thiên 8g, sắc
nước uống (Cúc Thanh Thang - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị nam giới sinh dục suy yếu
(vô sinh): Mỗi tối nhai 15g Câu kỷ tử, liên tục 1 tháng, thường
sau khi tinh dịch trở lại bình thường,
uống thêm 1 tháng. Trong thời gian uống thuốc, kiêng phòng dục.
Đã trị 42 ca, sau 1 liệu trình: hồi phục bình thường 23 ca, sau
2 tháng bình thường 10 ca, có 6 ca không có kết quả vì không có
tinh trùng, 3 ca không kết quả, theo dõi sau 2 năm, tinh dịch
trở lại bình thường, 3 ca đã có con (Đông Đức Vệ và cộng sự, ‘Kỷ
Tử Trị Vô Sinh Nam Giới’, Tân Trung Tạp Chí 1987, 2: 92)
+ Trị dạ dầy viêm teo mạn tính:
Dùng Kỷ tử rửa sạch, sao khô, giă nát, đóng gói. Mỗi ngày uống
20g, chia làm 2 lần lúc bụng đói và nhai uống, 2 tháng là một
liệu trình. Trong thời gian uống thuốc, ngưng tất cả các loại
thuốc khác. Đã trị 20 ca, theo dõi 2- 4 tháng, có kết quả tốt 15
ca, có kết quả 5 ca (Trần Thiệu Dung và cộng sự, ‘Báo Cáo 20 Ca
Dạ Dầy Viêm Teo Mạn Tính Điều Trị Bằng Câu Kỷ Tử,’ Trung Y Tạp
Chí 1987, 2: 92).
+ Trị thận hư, tinh thiếu, lưng
đau, vùng thắt lưng đau mỏi: Câu kỷ tử, Hoàng tinh, 2 vị bằng
nhau, tán bột, luyện mật làm viên, mỗi lần 12g, ngày uống 2 lần
với nước nóng (Câu Kỷ Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách)..
+ Trị Can hư sinh ra bệnh ở mắt,
ra gió chảy nước mắt: Câu kỷ tử, dùng rượu ngâm sau 3-7 ngày,
mỗi lần uống 1-2 muỗng canh, ngày 2 lần (Câu Kỷ Tửu - Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
+ Câu kỷ tử có tác dụng bổ tinh
khí, bổ suy nhược làm cho người xinh tươi hồng hào, sáng rõ tai
mắt, yên thần định chí sống lâu (Bản Thảo Dược Tính).
+ Câu kỷ tử làm cứng mạnh gân
xương, sống dai lâu gìa, trừ phòng phong bệnh bổ hư lao, ích
tinh khí (Thực Liệu Bản Thảo).
+ Câu kỷ tử chữa được những bệnh
ở tim, ọe khan đau tim, đau họng khát nước vì thận có bệnh cho
nên hay làm nên chứng tiêu khát (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Câu kỷ tử có tính giúp cho
thận, nhuận được phế, dùng nó ép lấy dầu thắp sáng đèn làm sáng
mắt (Bản Thảo Cương Mục).
+ Câu kỷ tử có vị cay vừa, khí ấm
vừa và mát, tính có thể lên xuống được, vị nặng nên hay bổ âm
nhưng tính của nó là âm trong có dương nên cổ được khí. Xét cho
đúng thì nó chỉ xét cho dương một phần nào thôi, chứ không có
tính cách kích động nên những người biết dùng thì dùng để tiếp
thêm sức cho Thục địa là đúng. Còn vấn đề công dụng của nó thì
có thể làm cho thông minh tai mắt, yên ổn tâm thần tăng thêm
tinh tủy, cứng mạnh gân xương, bù đắp vào những chỗ bất túc nhất
là lao thương quá độ. Vì vậy khi mà thận khí đã đầy đủ thì chứng
tiêu khát không còn nữa, còn những người bị chân âm suy tổn mà
đau ở sau lưng dưới rốn, mê man dùng nó thì công hiệu (Cảnh Nhạc
Toàn Thư).
+ Câu kỷ tử có vị ngọt tính bình
là vị thuốc chính của Thận, vì vậy mà bổ Thận ích tinh, khi Thận
thủy đã mạnh thì gân xương rắn chắc vững vàng nên chứng tiêu
khát lui cả, còn những chứng mắt mờ, tai điếc, lưng đau, chân
yếu cũng theo đó mà biến mất (Bản Thảo Thông Nguyên).
+ Đi xa ngàn dặm thì không nên
dùng Câu kỷ tử vì nó bổ thận quá cho nên kích thích đến tình
dục, nó có khí bình không nóng, nó có tác dụng bổ thận chế hỏa,
công hiệu như Thục địa nhưng chỉ tiếc khí nóng bứt rứt trong
xương muốn trừ nó mà chưa từng dùng được (Danh Y Biệt Lục).
+ Câu kỷ tử vị ngọt mát tính
nhuận, các sách ghi rằng có tác dụng khu phong, minh mục, mạnh
gân xương, bổ tinh, tráng dương. Xét đúng ra thì Thận thủy suy
thiếu uống vào có tính cam nhuận thì âm phải theo dương mà sinh
trưởng. Khi Thận thủy đã đầy đủ thì tự nhiên phong
sẽ bị tán ngay, vì thế nó có tác dụng làm
sáng được tai mắt, cứng xương, mạnh gân. Đó lại càng chứng minh
rằng Câu kỷ tử là một vị thuốc tư thủy, do đó mà các sách đều
cho rằng nó có tác dụng chữa được tiêu khát. Ngày nay thấy nó
sắc đỏ mà tưởng lầm là thuốc bổ dương thì quá sai lầm. Tại sao
không biết rằng những thứ đã gọi là khí hàn thì có bao giờ mà bổ
dương được? Nếu cứ cho sắc đỏ đó là bổ dương thì Hồng hoa, Tử
thảo thì sắc nó cũng đỏ mà có ai quả quyết là thuốc bổ dương
đâu, có kẻ lại cho rằng tính nó hoạt huyết. Than ôi! đạo làm
thầy thuốc mà không rành, chỉ hạn hẹp trong mấy cuốn sách, nghĩ
quẩn quanh, cái gì còn hồ nghi phải gắng sức nghiên cứu cho tới
đầu tới đuôi. Nói chung quy chỉ vì xem sách không tinh, định câu
không rõ nghĩa không thể nhận xét mà lý hội cho đến cùng, chỉ
biết một đoạn nào đó thì biết làm sao được! Chẳng hạn những bệnh
thuộc hư hàn mà dám dùng nó thì chuyện xảy ra chẳng những không
thể bổ được phần dương mà hư lại càng hư thêm rồi sinh ra những
chứng tiêu chảy không cầm được, có khi tới chết. Đó chính là sai
một ly đi một dặm nó biến chuyển nhanh như thế, sao lại cho rằng
dùng thuốc không cần cẩn thận lắm cũng được vậy mà? (Bản Thảo
Cầu Chân).
+ Câu tử có vị ngọt đắng tính
lạnh, nhập vào kinh Can và Thận, có tác dụng bổ âm tráng thủy,
tưới nhuần được cho Can, thanh trừ được phong độc. Nhờ được tính
đắng mát cho nên Tỳ dễ tiết, với những dạng người có bệnh Tỳ thổ
khô táo, táo bón mới nên dùng nó; Với nhưng người có thủy hàn
khô thấp, trường vị hoạt tiết, tiêu lỏng, tiêu sệt luôn thì
không nên dùng nó vì có thể sinh ra tiêu chảy. Nếu ai gọi nó là
thuốc trợ dương khí là sai hoàn toàn (Trường Sa Dược Giải).
+ Dùng với Thục địa là rất hay, thuốc làm sáng mắt, thính
tai, ích tinh, cố tủy, kiện cốt, cường cân, chuyên bổ lao
thương, chỉ tiêu khát, chân âm hư mà bụng rốn đau không khỏi,
dùng nhiều rất hay (Cảnh Nhạc Toàn Thư').
+ Câu kỷ tử chuyên bổ huyết,
không thuốc nào hơn (Trùng Khánh Đường Tùy Bút).
+ Câu kỷ tử cảm khí xuân hàn của
trời, lại được cả khí xung hòa của đất để sinh ra, vị nó ngọt,
tính bình cho nên là vị thuốc chính có công năng chuyên bổ cho
chân âm của Can và Thận. Họ Đào nói: Xa nhà ngàn dặm chớ ăn Câu
kỷ tử, ý nói sức cường dương của nó đó thôi (Dược Phẩm Vậng
Yếu).
+ Chu Nhụ Tử trông thấy bên chỗ
khe suối có hai bụi rậm hoa xanh tươi trông rất đẹp, bỗng thấy
một chó lớn đuổi một con chó nhỏ phóng vào bụi hoa gần ngay gốc
cây Kỷ tử. Họ trông thấy vậy nhưng không biết nó biến đi đâu,
liền cùng nhau đào ở gốc cây Kỷ tử thì thấy ở gốc có hai cái rễ
lớn nhỏ như hai con chó nằm gọn ở đó, họ bèn đem về nấu ăn, tự
nhiên thấy khỏe, khoan khoái trong người. Ông nói đó là cây Kỷ
tử của tiên trồng có hơn cả ngàn năm nên mới hóa hình con chó
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Tục truyền ngày xưa cây này
mùa xuân gọi là Thiên tinh tử, mùa hè gọi là Câu kỷ diệp, mùa
thu gọi là Khước lão, mùa đông gọi là Địa cốt bì (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Câu kỷ tử còn cho lá và ngọn
gọi là Câu kỷ hành diệp, có vị đắng, tính lạnh, không độc,
thường nấu với thịt dê ăn bổ, có tác dụng trừ phong, sáng mắt.
Có thể thay trà để uống, công dụng chỉ khát, hết bứt
rứt, nóng nảy, bổ sinh dục, giải độc của
miến. Nó rất ghét sữa tô. Lấy nước cốt của nó nhỏ vào mắt có tác
dụng trừ mộng thịt ở mắt, màng đỏ ở mắt, choáng váng, hoa mắt
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cây còn cho mầm gọi là Câu kỷ
miêu có vị đắng tính lạnh, có tác dụng trừ phiền, ích chí, khu
phong, minh mục, tiêu nhiệt độc, tán sang thủy (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).
+ Dùng hạt Câu kỷ tử loại ở Cam
châu nấu chín, gĩa nát, trộn với men gạo hoặc lấy hạt Câu kỷ
cùng với Sinh địa hoàng chế thành rượu uống gọi là rượu Câu kỷ
(Câu Kỷ Tửu). Dùng hạt Câu kỷ trộn gạo nấu cháo có tác dụng bổ
tinh huyết, ích thận khí, thiếu huyết, thận suy dùng rất tốt gọi
là Câu kỷ tử chúc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Loại Câu kỷ ở Cam châu, Trung
Quốc có màu đỏ thịt dẻo, ít hột là thứ tốt nhất (Trung Dược Đại
Từ Điển).
+ Câu kỷ, hột của nó gọi là Câu
kỷ tử, rễ gọi là Địa cốt bì. Rễ có vị đắng hơn, tính hàn hơn,
còn hột thì ngọt nhiều, đắng ít. Công dụng của hai thứ này có
khác nhau. Câu kỷ tử là thuốc tư bổ Thận âm, Địa cốt bì là thuốc
trị chứng nóng âm ỉ trong xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Phân
biệt:
(1) Ở Việt Nam không có loại
Lycium chinensis Miller, mà có cây Câu kỷ (Lycium ruthanicum
Murray) cùng họ trên đó là cây cỏ, cành có gai. Lá nguyên mọc so
le. Hoa tím nhạt mọc ở kẽ lá. Quả hình trứng thuôn, khi chín màu
đỏ, có nhiều hạt. Cây được trồng nhiều nơi làm rau ăn và làm
thuốc. Trồng bằng cành hoặc hạt vào mùa xuân, chỉ dùng lá nấu
canh và chữa ho. Có khi quả chín đỏ được dùng thay thế Khởi tử,
Vỏ rễ làm Địa cốt bì, không đúng với cây trên, cần phải nghiên
cứu lại.
(2) Vị này cho vỏ rễ của cây
(Cortex lycii Chinensis) gọi là Địa cốt bì (Danh Từ Dược Học
Đông Y).
Câu kỷ tử, Tác dụng
Câu kỷ tử, Câu kỷ tử vị thuốc quí, Câu kỷ tử và sức khỏe, cách dùng Câu kỷ tử, mua
Câu kỷ tử, nơi bán Câu kỷ tử, mua bán Câu kỷ tử, giá cả Câu kỷ tử, công năng Câu kỷ tử,
nơi mua caukytu, caukytu, tac dung cua caukytu, caukytu vi thuoc qui, caukytu
và suc khoe, cach dung caukytu, mua caukytu, noi ban caukytu, mua ban
caukytu, gia ca caukytu, cong nang caukytu, nơi mua caukytu, cau ky tu, tac dung
cau ky tu, baithuoc co cau ky tu, cach dung cau ky tu, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: 116B Đà nẵng Quận Ngô quyền - Hải phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP