+ Phá huyết, khứ tích khí, tiêu
tích tụ đàm diên, trừ phúc trung lãnh thống (Dược tính Bản Thảo).
+ Khử đàm, chỉ khái, tuyên phế,
bài nùng, đề phế khí (Trung Dược Học).
+ Tuyên thông Phế khí, tán tà,
trừ đờm, tiêu nùng, dẫn thuốc đi lên (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Chủ
trị:
Cát cánh
+ Trị tắc tiếng, khàn tiếng do
họng sưng đau, ho nhiều đàm do ngoại cảm, phế ung (Trung Dược
Học).
+ Trị ho do phong tà ở Phế, phế
ung, nôn ra mủ máu, họng đau, ngực đau, sườn đau (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
Liều dùng: Dùng 4 – 12g
Kiêng
kỵ:
+ Âm hư ho lâu ngày và có khuynh
hướng ho ra máu đều không nên dùng. Âm hư hỏa nghịch không có
phong hàn ở phế cấm dùng. Ghét bạch cập, Long đờm thảo, Kỵ thịt
heo. Trần bì làm sứ càng tốt.
+ Không có phong hàn bế tắc ở Phế,
khí nghịch lên, âm hư hỏa vượng, lao tổn, ho suyễn: không dùng (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
TÌM HIỂU THÊM VỀ CÁT CÁNH
Tên
khác:
Vị thuốc cát cánh còn gọi là Tề ni (Bản Kinh) Bạch dược, Cánh
thảo (Biệt Lục), Lợi như, Phù hổ, Lư như, Phương đồ, Phòng đồ (Ngô
Phổ Bản Thảo), Khổ ngạch, (Bản Thảo Cương Mục), Mộc tiện, Khổ
cánh, Cát tưởng xử, Đô ất la sất (Hòa Hán Dược Khảo).
Tên
khoa học:
Platycodon grandiflorum (Jacq)
ADC. var. glaucum Sieb. et Zucc.
Họ
khoa học:
Họ Hoa Chuông (Campanulaceae).
Mô
tả:
Cây thảo sống lâu năm, thân cao
0,60-0,90m. Rễ củ nạc, màu vàng nhạt. Lá gần như không có cuống.
Lá phía dưới hoặc mọc đối hoặc mọc vòng 3-4 lá. Phiến lá hình
trứng, mép có răng cưa to. Lá phía trên nhỏ, có khi mọc cách.
Hoa mọc đơn độc hay thành bông
thưa. Dài màu lục, hình chuông rộng, mép có 5 thùy. Tràng hình
chuông màu xanh tím hay trắng. Quả hình trứng ngược. Có hoa từ
tháng 5-8. Quả tháng 7-9.
Địa
lý:
Cát cánh mọc hoang và được trồng
nhiều nơi ở Trung Quốc, đang được nhập vào trong nước ta. Củ to,
dài chắc màu trắng ngà.
Thu
hái, sơ chế:
Mùa xuân hái mầm non luộc ăn,
giữa tháng 2-8 đào rễ phơi khô, sấy khô.
Bộ
phận dùng làm thuốc:
Rễ củ phơi hoặc sấy khô (Radix
Platicodi).
Mô
tả dược liệu:
Rễ Cát cánh khô hình gần như hình
thoi, hơi cong, dài khoảng 6cm-19cm, đầu trên thô khoảng
12-22mm, bên ngoài gần màu trắng, hoặc màu vàng nhạt, có vết
nhăn dọc sâu cong thắt, phần lồi ra hơi bóng mượt, phần trên hơi
phình to, đầu trước cuống nhỏ dài, dài hơn 32mm, có đốt và vết
mầm không hoàn chỉnh, thùy phân nhánh ở đỉnh, có vết thân, dễ bẻ
gẫy, mặt cắt gần màu trắng hoặc màu vàng trắng. Từ giữa tâm có
vân phóng xạ tỏa ra (Dược Tài Học).
Bào
chế:
+ Dùng Cát cánh nên bỏ đầu cuống,
gĩa chung với Bách hợp sống, gĩa nát như tương, ngâm nước 1 đêm
xong sao khô (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Dùng Cát cánh cạo vỏ ngoài, tẩm
nước gạo 1 đêm, xắt lát sao qua (Bản Thảo
Cương Mục).
+ Hiện nay dùng củ đào về cắt bỏ
thân mềm rửa sạch ủ một đêm, hôm sau sắc lát mỏng phơi khô dùng
sống, có khi tẩm mật sao qua (Tùy theo đơn). Khi dùng làm hoàn
tán thì nên xắt lát, sao qua rồi tán bột mịn (Trung Dược Đại Từ
Điển).
Bảo
quản:
Dễ mốc mọt nên để nơi khô ráo.
Thành
phần hóa học:
+ Platycodin A, C, D (Konishi và
cộng sự, Chem Pharm Bull 1978, 26 (2): 668)
+ Ảnh hưởng đối với hệ hô hấp:
Cho chó và mèo đã gây mê uống nước sắc Cát cánh, thấy niêm mạc
phế quản tăng tiết dịch rõ, chứng minh rằng Cát cánh có tác dụng
long đờm mạnh (Chinese Hebra Medicine).
+ Tác dụng nội tiết: Nước sắc Cát
cánh làm giảm đường huyết của thỏ,đặc biệt
trong trường hợp gây tiểu đường nhân tạo, thuốc có tác dụng càng
rõ (Chinese Hebra Medicine).
+ Tác dụng chuyển hóa Lipid: Trên
thí nghiệm, cho chuột uống nước sắc Cát cánh, thấy có tác dụng
chuyển hóa Cholesterol, giảm Cholesterol ở gan (Chinese Hebra
Medicine).
+ Tác dụng chống nấm: Trong thí
nghiệm, nước sắc cát cánh có tác dụng ức chế nhiều loại nấm da
thông thường (Chinese Hebra Medicine).
+ Tác dụng đối với huyết học:
Saponin Cát cánh có tác dụng tán huyết mạnh gấp 2 lần so với
Saponin Viễn chí, nhưng khi dùng đường uống, thuốc bị dịch vị
thủy phân nên không còn tác dụng tán huyết. Do đó không được
dùng để chích (Chinese Hebra Medicine).
+ Saponin Cát cánh có tác dụng
kháng viêm, an thần, gỉam đau, giải nhiệt, chống loét dạ dầy, ức
chế miễn dịch (Trung Dược Học).
Tính
vị:
+ Vị cay, tính hơi ôn (Bản Kinh).
+ Vị đắng, có ít độc (Biệt Lục).
+ Vị đắng, tính bình, không độc (Dược
Tính Bản Thảo).
+ Vị đắng cay, tính hơi ấm (Trung
Dược Học).
Qui
kinh:
+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, thủ
Thái âm Phế (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Vào kinh túc Thái âm Tỳ, túc
Thiếu âm Thận, túc Dương minh Vị (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Vào kinh phế (Trung Dược Học).
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị họng sưng đau: Cát cánh 8g, Cam thảo 4g. Sắc hoặc tán
bột uống (Cát Cánh Thang – Thương Hàn Luận).
+ Trị ngực đầy nhưng không đau:
Cát cánh, Chỉ xác, hai vị bằng nhau, sắc với hai chén nước còn 1
chén, uống nóng (Nam Dương Hoạt Nhân Thư).
+ Trị thương hàn sinh ra chứng
bụng đầy do âm dương không điều hòa: Cát cánh, Bán hạ, Trần bì
mỗi thứ 12g, Gừng 5 lát, sắc với 2 chén rưỡi nước, còn 1 chén,
uống nóng (Cát Cánh Bán Hạ Thang - Nam Dương Hoạt Nhân Thư).
+ Trị ho suyễn có đàm: Cát cánh
60g, tán bột, sắc với nửa chén Đồng tiện, uống lúc nóng (Giản
Yếu Tế Chúng phương).
+ Trị Phế ung, ho, ngực đầy,
người như rét run, mạch Sác, họng khô không khát nước, lâu lâu
nhổ bọt tanh hôi như đờm cháo: Cát cánh 40g, Cam thảo 80g, sắc
với 3 thăng nước còn 1 thăng, chia uống nhiều lần, lúc nóng.
Buổi sáng uống thuốc mà buổi chiều nôn ra mủ, máu đặc là tốt
(Cam Cát Thang - Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị hầu tý, họng viêm, họng
sưng đau: Cát cánh 80g, sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, uống
(Thiên Kim phương).
+ Trị bị đánh đập hoặc té ngã gây
nên ứ huyết trong ruột, không tiêu lâu ngày, thỉnh thoảng vết
thương bị động đau: Cát cánh, tán bột. Mỗi lần uống 12g với nước
cơm (Trửu Hậu phương).
+ Trị có thai mà ngực
và bụng đau, đầy tức: Cát cánh 40g, gĩa
lấy nước 1 chén, sắc với 3 lát Gừng sống còn 6 phân, uống nóng (Thánh
Huệ Phương).
+ Trị răng sâu, răng sưng đau:
Cát cánh, Ý dĩ nhân, 2 vị tán bột, uống (Vĩnh Loại Kiềm phương).
+ Trị chân răng sưng đau, lợi răng loét: Cát cánh tán bột,
trộn với nhục Táo làm thành viên, to bằng hạt Bồ kết, xong lấy
bông bọc lại, ngậâm thêm với nước Kinh giới (Kinh Nghiệm phương).
+ Trị cam ăn làm răng lở thối:
Cát cánh, Hồi hương 2 vị bằng nhau, tán bột, xức vào (Vệ Sinh
Giản Dị phương).
+ Trị mắt đau do can phong thịnh: Cát cánh 1 thăng, Hắc khiên
ngưu đầu nhỏ 120g. Tán bột, làm hành viên, to bằng hạt ngô đồng.
Mỗi lần uống 40 viên với nước nóng, ngày 2 lần (Cát Cánh Hoàn -
Bảo Mệnh Tập).
+ Trị mũi chảy máu: Cát cánh, tán
bột. Mỗi lần uống 1 muỗng canh với nước, ngày 4 lần (Phổ Tế
Phương).
+ Trị trúng độc, tiêu ra phân như
gan gà, ngày đêm ra hàng chậu: Khổ Cát cánh tán bột. Ngày 3 lần,
mỗi lần 12g với rượu, liên tục 7 ngày, xong ăn gan heo, phổi
heo để bồi dưỡng(Cổ Kim Lục Nghiệm phương).
+ Trị trẻ nhỏ khóc đêm, khóc
không ra hơi gần chết: Cát cánh đốt, tán bột 12g, uống với nước
cơm, cần uống thêm 1 ít Xạ hương (Bị Cấp phương).
+ Trị ho nhiệt, đàm dẻo đặc: Cát
cánh 8g, Tỳ bà diệp 12g, Tang diệp 12g, Cam thảo 4g, sắc uống
ngày 1 thang, liên tục 2-4 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược
Thủ Sách).
+ Trị ho hàn đàm lỏng: Cát cánh
8g, Hạnh nhân, Tử tô mỗi thứ 12g, Bạc hà 4g, sắc uống liên tục 4
ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị amidal viêm: Cát cánh 8g,
Kim ngân hoa, Liên kiều mỗi thứ 12g, Sinh Cam thảo 4g, sắc uống
(Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị phế ung, ngực đầy tức, ho
mửa ra mủ đàm: Cát cánh 160g, Hồng đằng 340g, Ý dĩ nhân 32g, Ngư
tinh thảo 340g, Tử hoa địa đinh 32g. Chế thành rượu chừng 450ml
[mỗi lần uống 10ml, ngày 3 lần] (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược
Thủ Sách).
+ Trị phế ung, ngực đầy tức, ho
mửa ra mủ đàm: Cát cánh 4g, Bạch mao căn 40g, Ngư tinh thảo 8g,
Cam thảo (sống) 4g, Ý dĩ nhân 20g, Đông qua nhân 24g, Bối mẫu
8g, Ngân hoa đằng 12g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược
Thủ Sách).
+ Trị ngực đau tức nơi tuổi gìa:
Cát cánh 12g, Quảng mộc hương 6g, Trần bì 12g, Hương phụ 12g,
Đương quy 20g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị cam răng, miệng hôi: Cát
cánh, Hồi hương, lượng bằng nhau, tán bột, trộn đều. Dùng bôi
vào chân răng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
+ Cát cánh có khả năng dẫn các vị thuốc đi lên, lại có khả
năng hạ khí xuống là vì nó vào tạng Phế, táo kim đúng lệnh thì
trọc khí phải đi xuống. Cổ nhân dùng vào trong thuốc khơi thông
khí huyết, cùng trong mọi chứng uất đờm hỏa, kiết lỵ cũng cùng
một nghĩa đó, nếu bệnh không thuộc về tạng Phế thì dùng nó vô
ích (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Cát cánh cho đầu của củ gọi là
Lô đầu có tác dụng trị được chứng đàm nhiệt, mửa ở thượng tiêu.
Tán bột uống sống với nước 4g sẽ mửa ra (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).
+ Ngày xưa người ta hay lầm lần
vị Tề ni với Cát cánh. Theo ‘Thần Nông Bản Thảo’ thì vị Tề ni
với Cát cánh là một vật, nhưng theo sự kê cứu của ‘Đào Thị Biệt
Lục’ thì vị Tề ni với Cát cánh chỉ là cùng loài mà không phải là
cùng vật, bởi vì nó có hai tính chất mà công dụng khác nhau.
Sách ‘Bản Thảo Cương Mục’, ‘Y Học Nhập Môn’ đều chia Tề ni và
Cát cánh hai cây khác nhau. Theo Trần Tồn Nhân trong (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển), Cát cánh hoặc gọi Khổ Cát cánh có vị đắng
mà trong rễ có tim, còn Tề ni gọi là Điềm cát cánh (Điềm: ngọt)
có vị ngọt mà trong rễ không có tim. Rễ của loài cây Tề ni
(Adenophora remotiflora Miq) tuy có tác dụng lợi khí chỉ ho
nhưng chủ yếu dùng làm thuốc giải độc, dùng để trị đinh râu,
trúng độc và rắn cắn, không được dùng chung với Cát Cánh
[Platycodon grandiflorum Jacq A. DC] (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).
+ Cát cánh vị cay, tính ôn nhưng
không táo, có công dụng tuyên tán tà khí, ho, ngực đầy, khạc đờm
khó ra, dù ho thuộc loại hàn hoặc nhiệt, nếu thiên về thực tà,
đều nên dùng Cát cánh (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Trị họng đau, nên dùng chung
với Cam thảo, giống như bài Cát Cánh Thang trong Thương Hàn Luận
(Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Củ rễ có ruột lõi gọi là Khổ
Cát cánh, sức tuyên thông mạnh. Loại không có ruột lõi gọi là
Điềm Cát cánh (Tề ni), sức tuyên thông yếu (Đông Dược Học Thiết
Yếu).
Phân biệt: Cát cánh có nhiều loại,
phổ biến là loại Cát cánh hoa tím và Cát cánh hoa trắng, rễ đều
được dùng làm thuốc với tên Cát cánh. Trong sách Thần Nông Bản
Thảo’ gọi Cát cánh bằng Tề ni hoặc Tề nê. Loại Adenophora
remotiflora Miq gọi là Cát cánh ngọt đó là cây thân thảo sống
được nhiều năm cao 1-1,3m. Lá mọc cách, có cuống, hình trứng,
nhọn, rìa lá có răng cưa. Về mùa thu cây ra hoa, hoa hình chuông
5 cánh, màu tía xanh nhạt. Để phân biệt rễ Cát cánh có vị đắng,
rễ chắc mặt cắt ngang có vân hoa cục. Cát cánh ngọt có vị ngọt,
rễ chắc, nhưng mặt cắt ngang không có vân hoa cục. Người ta
thường trộn hai thứ rễ trên với nhau để làm thuốc
Cát cánh, Tác dụng
Cát cánh, Cát cánh vị thuốc quí, Cát cánh và sức khỏe, cách dùng Cát cánh, mua
Cát cánh, nơi bán Cát cánh, mua bán Cát cánh, giá cả Cát cánh, công năng Cát cánh,
nơi mua catcanh, catcanh, tac dung cua catcanh, catcanh vi thuoc qui, catcanh
và suc khoe, cach dung catcanh, mua catcanh, noi ban catcanh, mua ban
catcanh, gia ca catcanh, cong nang catcanh, nơi mua catcanh, catcanh, tac dung
catcanh, baithuoc co catcanh, cach dung catcanh, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP