+ Cát căn Tán nhiệt, giải biểu, tuyên độc thấu
chẩn, đồng thời có tác dụng sinh tân dịch, chỉ khát, giải co giật, chỉ
tả. Hoa có tác dụng giải độc của rượu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Giải cơ, thoái nhiệt, thăng đề Vị khí (Đông
Dược Học Thiết Yếu).
Chủ
trị:
+ Cát căn Trị chứng biểu nhiệt, sởi thời kỳ đầu
ra không hết, tiêu chảy (Nướng dùng hiệu quả nhanh hơn), trước trán đau,
gáy vai cứng đau (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị tà ở kinh Dương minh, chỉ nóng,
không lạnh hoặc gáy cứng, sau lưng cứng, hoặc Thái dương + Dương minh
hợp bệnh gây nên gáy cứng, bệnh Thái dương dùng phép hạ lầm gây nên tiêu
chảy có kèm nhiệt hoặc sởi muốn mọc mà không mọc được, phần cơ nóng mãi
không hạ (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Liều
dùng:- Dùng từ 4 – 40g.
+ Cát căn dùng sống có tác dụng phát hãn
giải nhiệt, dùng sao có tác dụng chỉ tả (gọi là Ổi cát căn).
Kiêng
kỵ:
+ Âm hư hỏa vượng, thượng thực hạ hư: cấm dùng (Trung Quốc Dược Học
Đại Từ Điển).
+ Âm hư, hỏa vượng hoặc sốt nóng mà sợ
lạnh: thận trọng khi dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ CÁT CĂN
Tên
gọi:
Vị thuốc Cát căn còn gọi Cát là Sắn, Căn là rễ. Cây có củ như sắn
nên gọi Cát căn.
Tên
khoa học:
Pueraria thomsoni Benth.
Họ
khoa học:
Họ Cánh Bướm (Fabaceae).
Mô
tả:
Là cây thảo quấn, có rễ nạc, bột, có thân
hơi có lông lá có 3 lá chét, lá chét hình trái xoan, mắt chim, có mũi
nhọn ngắn, nhọn sắc, nguyên hoặc chia 2-3 thùy, có lông áp sát cả hai
mặt. Hoa màu xanh lơ, thơm, xếp thành chùm ở nách, lá bắc có lông. Quả
đậu có lông dựng đứng màu vàng. Cây trồng hoặc mọc hoang dại khắp nước
ta, ra hoa vào tháng 9-10. Củ phình dài ra có khi thành khối nặng tới
20kg ăn được.
Địa
lý:
Mọc hoang, trồng khắp nơi.
Thu hái: Trồng vào tháng 3-4 đến hết
tháng 11 đã có thể đào lấy củ, biến chế thành dược liệu để bán hay dùng.
Cây trồng 2 năm thì ra hoa, tháng 5-7 lúc bông (chùm) hoa đã có 2/3 hoa
nở có thể hái phơi khô bán hay dùng.
Phần
dùng làm thuốc:
Dùng rễ (thường gọi là củ), hình trụ
đường kính không đều vỏ có màu trắng đục, thường cắt và bổ dọc thành
từng miếng trắng vàng.
Mô
tả dược liệu:
Rễ cát căn thể hiện hình viên trụ không
đều, vỏ ngoài màu tím nâu hoặc đỏ nâu có vết nhăn dọc thành, dược liệu
thường phiến dầy hay mỏng hình khối vuông, màu xám trắng, hoặc màu vàng
trắng có nhiều chất xơ rất dễ tước ra thành dạng sợi, phần nhiều là màu
trắng. Dùng sắc màu trắng phấn mịn là thứ tốt. Xơ nhiều, bột ít là loại
thứ phẩm.
Bào
chế:
(1) Khúc củ: Ở Quảng Đông, Quảng Tây,
Phúc Kiến (Trung Quốc) người ta đem củ về rửa sạch, lấy dao cạo sạch lớp
vỏ thô xốp ở ngoài, xong cắt thành những đoạn ngắn 13cm, xếp vào trong
vại, dùng nước muối đặc (Cứ 100 đoạn Sắn dây thì dùng 5kg muối pha với
10 kg nước), ngâm nửa ngày. Sau lại pha thêm một ít nước (ngâm nước lúc
ngập củ là được) ngâm đủ 1 tuần thì vớt ra, dùng sọt đem ra sông ngâm
3-4 giờ vớt ra rửa sạch, phơi 2-3 ngày (Khô đi độ 6-7 phần) lại bỏ vào
hòm, xông Lưu hoàng trong hai ngày đêm, làm cho củ mềm và trong, tất cả
thành màu trắng bột không có lõi vàng nữa, thì có thể lấy đem phơi thật
khô để dùng hay bán. Có lúc phải dùng xông đi xông lại 3 lần, mỗi lần
mất 1 ngày, phơi hai ngày. Qua ba lần xông ba lần phơi như vậy rất phức
tạp, lại khó xông cho củ trở thành trắng trong, theo kinh nghiệm thì nếu
loại củ nào xông một lần mà trong ruột củ trắng trong là tốt nhất.
(2) Khoanh củ: Ở tỉnh Tứ Xuyên, tức là
sau khi gọt bóc vỏ ngoài ra, cắt thành miếng vuông dầy 1,7-3cm, đuôi củ
nhỏ chỉ cắt khúc, sau khi dùng Lưu hoàng xông thì đem sấy khô ngay là
được.
(3) Miếng vuông: Cũng là một cách chế
biến của tỉnh Tứ Xuyên, tức là sau khi gọt bóc vỏ ngoài ra, cắt thành
miếng vuông dầy (cạnh) 1,7-3cm, sau khi xông Lưu hoàng xong đem sấy khô
ngay là được.
(4) Ngoài ra có nơi đào về bóc bỏ lớp vỏ
bên ngoài, cắt thành khúc dài 8-15cm nếu đường kính quá lớn thì bổ dọc
thành 2 nửa, có khi cắt lát thành từng miếng dầy 0,5-1cm xông Lưu hoàng
3 lần, sau đó ngày phơi nắng, tối sấy Lưu hoàng cho tới khô. Nếu muốn
lấy bột thì say nhỏ gạn lấy tinh bột lọc đi lọc lại nhiều lần rồi sấy
hoặc phơi khô.
(5) Cách chế bột sắn dây: Cạo vỏ xay gĩa
cả củ nát bấy, lọc lấy nước ở trong đổ nước lạnh vào rồi lấy khăn mà
lọc cho sạch xác, bụi bặm, đất, cát căn rồi để lắng xuống mới gạn lọc
nước trên cứ như thế mỗi ngày thay nước một lần, mỗi khi đổ nước vào một
lần phải lọc những nước đục đi, gạn lọc như thế 1 tháng đến khi nào thấy
nước trong khuấy không đục nữa thì thôi. Lọc càng kỹ bột nước mới khỏi
chua, chát, bột trắng, nhưng phải thay nước hàng ngày, bột không chua.
Khi đã xong đổ bột ra miếng vải băng để trên sạp khô phơi thành bột cất
dùng.
. Trên súc vật thực nghiệm, nước sắc Cát căn có tác dụng giải nhiệt
mạnh (‘Nghiên Cứu Dược Lý Tác Dụng giải Nhiệt Một Số Thuốc Trung Y’,
Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1956, 42 (10): 964-967).
. Nước sắc loại Cát căn mọc ở Nhật Bản có tác dụng hạ nhiệt đối với
thỏ được gây sốt nhân tạo (Trung Dược Học).
+ Tác dụng gĩan cơ: Chất Daidzein có tác dụng gĩan cơ ở ruột của
chuột, tương tự như chất spasmaverine (Trung Dược Học).
+ Tác dụng đối với tim mạch: Chích chất Puerarin vào động mạch cảnh
trong của chó được gây mê, thấy tăng lưu lượng máu trong não và giảm sức
đề kháng của mạch máu. Tác dụng này kéo dài khoảng 20 phút. Chích tĩnh
mạch có tác dụng nhẹ hơn và không thể so sánh với hiệu quả của
Epinephrin hoặc Norepinephrine. Cát căn thường làm tăng lưu lượng máu
trong não người bị xơ vữa động mạch. Chất Tincture hoặc chất Puerarin
của Cát căn làm tăng lưu lượng máu trong động mạch vành của chó (Trung
Dược Học).
+ Điều trị huyết áp cao: Dựa vào công trình theo dõi điều trị dài
ngày việc dùng Cát căn trị cổ gáy cứng, đau do ngoại nhân, cho thấy nước
sắc Cát căn có tác dụng đối với chứng gáy cứng đau do huyết áp cao gây
nên. Nước sắc Cát căn cho thấy 33% bớt các triệu chứng chủ quan, có tiến
triển đối vơi 58%. Thuốc cũng đồng thời cải thiện các triêïu chứng khác
như chóng mặt, đầu đau, tự nó không có tác dụng đối với huyết áp thấp (Trung
Dược Học).
+ Điều trị rối loạn ở động mạch vành: Nghiên
cứu dùng nước sắc Cát căn cho thấy thuốc có một số tác dụng đối với
chứng đau thắt ngực. Kết quả cho thấy 38% có cải thiện, 42% có cải
thiện điện tâm đồ. Thường các dấu hiệu cải thiện xẩy ra trong khoảng 1
tháng. Hiệu quả không rõ lắm đối với bất cứ trường hợp giảm Cholesterol
(Trung Dược Học).
+ Dùng trong tai mũi họng: Nước sắc Cát căn cho 33 ca điếc đột ngột
uống mỗi ngày, kèm uống thêm Vitamin B complex. Kết quả 9 ca khỏi, 6 ca
có dấu hiệu tiến triển (Trung Dược Học).
+ Gĩan động mạch vành: Kết quả thực nghiệm cho thấy, nước sắc Cát căn
có tác dụng đối kháng với nội kích tố thùy sau, gây phản ứng thiếu máu
cơ tim cấp (‘Nghiên Cứu Thực Nghiệm Và Ứng Dụng lâm Sàng Vị Cát Căn
Phòng trị Bệnh Tâm Phế, Bệnh Mạch Vành và Huyết Áp Cao’, Trung Hoa Y Học
Tạp Chí 1972, 42 (10): 96-102).
+ Có tác dụng tăng lượng huyết ở não do làm gĩan mạch não trên súc
vật thực nghiệm (Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1972, 42 (10): 96-102).
+ Nước sắc Cát căn có tác dụng thu liễm, tiêu viêm, làm gĩan co thắt
của cơ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Tính
vị:
+ Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).
+ Không độc, nước cốt rễ dùng sống rất
hàn (Biệt Lục).
+ Vị ngọt, cay, tính bình, không độc (Bản
Thảo Cương Mục).
+ Vị ngọt, cay, tính mát (Trung Dược Học).
+ Hoa có vị ngọt tính bình (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị cay, ngọt, tính bình (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
Qui
kinh:
+ Vào kinh Vị, Phế (Bản Thảo Tân Biên).
+ Vào kinh Vị, Tỳ (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Vào kinh Tỳ, Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vào kinh Vị, Bàng quang, Tỳ (Yếu Dược
Phân Tễ).
+ Vào kinh Tỳ, Vị (Trung Dược Học).
+ Vào kinh Vị, Bàng quang (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị tổn thương gân đến nỗi ra máu: Cát
căn gĩa lấy nước uống, dùng khô thì sắc mà uống còn bã đắp nơi đau (Ngoại
Đài Bí Yếu Phương).
+ Trị say rượu không tỉnh:Cát căn sống
uống 2 thăng, đái ra thì lành (Thiên Kim Phương).
+ Trị đau nhức vùng thắt lưng: Cát căn
sống nhai nuốt nước cho đến khi khỏi (Trửu Hậu Phương).
+ Trị uống thuốc quá liều: Cát căn sống,
gĩa ép lấy nước cốt uống, nếu dùng khô thì sắc uống (Trửu Hậu Phương).
+ Trị trúng độc các loại thuốc, ngộ độc
sinh ra bứt rứt, bồn chồn, phát cuồng, nôn mửa: Cát căn sắc uống (Trửu
Hậu Phương).
+ Trị thời khí có nhức đầu sốt cao: Cát
căn sống, rửa sạch, gĩa nát lấy một chén nước lớn, một chén Đậu xị, sắc
còn 6 phân, bỏ bã, chia uống cho ra được mồ hôi thì tốt, nếu chưa ra mồ
hôi, uống tiếp. Nếu tâm nhiệt thêm Kha tử nhân 10 hạt (Thánh Huệ Phương).
+ Trị tích chướng khí nóng độc: Cát căn
tươi gĩa vắt lấy 1 chén nước nhỏ uống để khử khí nhiệt độc (Thánh Huệ
Phương).
+ Trị trẻ nhỏ nhiệt khát lâu ngày không
hết: Cát căn 20g, sắc uống (Thánh Huệ Phương).
+ Trị chảy máu mũi không cầm: Cát căn
sống, gĩa ép lấy nước uống 3 lần thì khỏi (Thánh Huệ Phương).
+ Trị thương hàn đau đầu, phát sốt 2-3
ngày: Cam thảo 200g, Hương kỷ 1 thăng, nước tiểu trẻ con 8 tháng, sắc
làm 3 thang, chia 3 lần uống, đồng thời ăn cháo hành cho ra mồ hôi (Mai
Sư Phương).
+ Trị vết lở do cọp vồ: Cát căn sống sắc
nước đặc rửa, bên trong uống bột Cát căn, mỗi lần 20g, ngày đêm 6 lần
(Mai Sư Phương).
+ Trị nhiệt độc hạ huyết do ăn thức ăn
nóng sinh ra: Cát căn 2 cân sống, gĩa ép lấy nước một thăng, bỏ vào một
ít nước Liên ngẫu (Ngó sen) để uống (Mai Sư Phương).
+ Trị các loại thương hàn khó phân biệt,
thì chỉ dùng bài này thì trị được cả những bệnh thiên hành thời khí, làm
nhức đầu, nóng sốt, mạch Hồng: dùng Cát căn 160g, nước lạnh 2 tô, bỏ Đậu
xị một thăng, sắc còn nửa thăng thêm vào một tí gừng lại càng tốt (Thương
Hàn Loại Yếu Phương).
+ Trị có thai mà sốt: dùng nước cốt sắc
Cát căn 2 thăng chia 3 lần (Thương Hàn Loại Yếu Phương).
+ Đề phòng nhiệt bệnh do gió độc đưa đến
lây lan: bột Cát căn 2 thăng, Sinh địa 1 thăng, Hương kỷ 1/2 thăng, tán
bột, uống với nước cơm sau khi ăn, ngày 3 lần, có bệnh uống 5 lần (Thương
Hàn Luận Phương).
+ Trị phiền táo nóng khát: bột Cát căn
160g, trước hết lấy nước tẩm gạo tấm cám nửa thăng 1 đêm, vớt ra rồi đổ
nước khác vào, khuấy đều, nấu chín, trộn bột Cát căn vào ăn (Thực Y Tâm
Kính Phương).
+ Trị ọe khan không dứt: Cát căn sống,
gĩa nát, uống lấy nước một bát là hết (Thực Y Tâm Kính Phương).
+ Trị trẻ nhỏ nôn mửa, sốt cao, khi ăn bị
kinh giản: bột Cát căn 80g, sắc còn 2 chén, trộn đều, chưng cách thủy ăn
như cháo (Thực Y Tâm Kính Phương).
Trị tâm nhiệt mửa ra máu không cầm: Cát
căn tươi, gĩa vắt lấy nước cốt nửa thăng, uống vào là hết (Quảng Lợi
Phương).
+ “Cát Căn Thang” trị thương hàn tà nhập
vào kinh Vị, Ôn bệnh, tà nhiệt, nhức đầu, khát nước, bồn chồn, khô mũi,
khó ngủ, trằn trọc, nếu khát nước nhiều, nôn mửa nhiều thêm Thạch cao,
Mạch môn đông, Tri mẫu, Trúc diệp, Thang “Cát Căn Thăng Ma Thăng Thang”
trị sởi mới phát lấm tấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cát căn kết hợp với thuốc bổ thận ích
tinh làm hoàn thì có tác dụng bổ âm làm mau có con (Trung Quốc Dược Học
Đại Từ Điển).
+ Cát căn hợp với Thăng ma vào trong
những thuốc thăng dương tán hỏa, thăng dương trừ thấp, thăng dương ích
vị, thanh thử ích khí, bổ trung ích khí (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Trị cảm mạo, lạnh ít nóng nhiều, nhức
đầu, tay chân bải hoải, đau mắt, khô mũi, xót xa không ngủ, đau hố mắt,
mạch Vi Hồng: Sài hồ 4g, Cát căn 8g, Khương hoạt, Bạch chỉ, Hoàng liên,
Thược dược mỗi thứ 4g, Cam thảo, Cát cánh mỗi thứ 2g, Thạch cao 8g, Sinh
khương 3 lát, Đại táo 2 trái, sắc uống (Sài Cát Giải Cơ Thang - Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị viêm ruột cấp tính, lỵ, mình sốt
bứt rứt: Cát căn 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng liên 4g, sắc uống (Cát Căn
Hoàng Cầm Hoàng Liên Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sởi mới phát hoặc chưa mọc ra hết:
Cát căn 12g, Ngưu bàng tử 12g, Kinh giới 12g, Thuyền thoái 4g, Liên kiều
16g, Uất kim 8g, Cam thảo 4g, Cát cánh 8g. Sắc uống (Cát Căn Thang - Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị sốt mới bắt đầu, khát nước, nóng
nảy, bực dọc: Cát căn 12g, Sinh thạch cao 20g, Tri mẫu 8g, Cam thảo 8g,
sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị trẻ nhỏ viêm tủy xám, gáy lưng co
quắp: Cát căn 8g, Thạch cao 8g, Kim ngân hoa 4g, Hoàng cầm 4g, Ngô công
2 con, Toàn yết hai con, Bạch thược 4g, Hoàng liên 2,8g, Cam thảo 2g
(Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị huyết áp cao, cổ cứng đau: Cát căn
20g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham
khảo:
. Cây sắn dây cho hoa gọi là Cát hoa, có
vị ngọt bình, không độc, có tác dụng giải độc của rượu, trường phong hạ
huyết uống với bột ‘Tiểu đậu hoa’ với rượu thì không say (Danh Y Biệt
Lục).
. Cát căn có đặc tính giải được các vết
độc của Sắn (khoai mì), Ba đậu và các loại ngộ độc khác (Lôi Công Dược
Bối).
. Cát căn trị được chứng bệnh thời hành
do thiên thời có nôn mửa. Có tác dụng khai vị, giải độc rượu (Dược Tính
Bản Thảo).
. Người bị chó dại cắn có độc, đâm Cát
căn sống uống rất hay, nếu không có tươi, dùng bột trộn nước giếng rịt
vào chỗ bị thương (Tân Tu Bản Thảo Ddôf Kinh).
. Bột Cát căn làm khỏi khát, thông được
đại tiểu tiện, giải được độc của rượu, trị nóng nảy bồn chồn trong
người, chế ngực được độc của Đan thạch, gĩa nát ép lấy nước uống trị trẻ
con sốt (Khai Bảo Bản Thảo).
. Bột Cát căn tán được uất hỏa (Bản Thảo
Cương Mục).
. Cát căn chữa được chứng nhức đầu vì
nóng, giải được nhiệt ở cơ biểu làm khỏi khát, sởi mới phát, làm đậu dễ
mọc, giải độc tỉnh táo (Bản Thảo Thông Nguyên).
. Cát căn vị cay đắng khí bình, tính
thăng phát, nó nhập kinh Túc dương minh Vi, nó cổ động cho Vị khí, sinh
tân chỉ khát, nó cũng nhập được Tỳ kinh nên khai thông tấu lý làm ra mồ
hôi, giải cơ biểu và bớt nóng nảy, nhưng phải để ý Cát căn khi nào gặp
nhức đầu như búa bổ đó là truyền vào Dương minh kinh thì có thể dùng
được, nếu chưa truyền vào tới Dương minh mà lại dùng nó là tự dẫn tà
nhập vào trong, không được dùng lúc ấy. Vì dương minh kinh chủ về cơ
nhục mà dùng Cát căn khai thông cơ nhục, tất nhiên tân dịch theo nó ra
ngoài thì e rằng dạ dầy càng bị khô ráo mãi, đến nỗi phần âm phải
tuyệt vong sao? Nhưng những chứng đậu sởi còn chưa phát thì có thể dùng
nó mà thăng đê, người say rượu giải rượu đó mà cho tỉnh, người có hỏa
uất thì dùng nó cho tiêu tan đi, nhưng phải xét kỹ khi khỏi bệnh không
được dùng nó quá lâu làm tổn thương tới vị khí (Bản Thảo Cầu Chân).
. Cát căn chủ về đưa lên, có vị ngọt tác
dụng chính là làm tiêu tan tà ở biểu, dùng 2-12g có thể chữa được bệnh
trong cơ nhục, mỡ, thớ thịt làm ra mồ hôi. Đó là vị thuốc thuộc về Túc
dương minh Vị kinh chữa được chứng thương hàn phát sốt, cổ khô, mũi khô
đau nhức mắt, mất ngủ sốt rét, báng tích nhiệt độ cao. Vị thuốc Ma
hoàng, Tử tô luôn chữa những bệnh ở ngoài biểu nhưng Cát căn là vị
chuyên về giải cơ mà thôi, có vị ngọt khí mát nên cổ động và vỗ về Khí
Vị, và lại Tỳ chữa về cơ nhục lại làm chủ cả tay chân, nếu như dương khí
bị uất trong tỳ vị giống như chứng ở biểu, ăn uống bình thương nhưng có
điều là tay chân cơ nhục nóng như lửa thì dùng nó cũng như Thăng ma, Sài
hồ, Phòng phong, Khương hoạt, theo những tễ thăng dương tán hỏa, thanh
cơ thoái nhiệt, đó là phương pháp của tiết lập trai là những phương
thuốc thánh thường dùng. Nếu gặp chứng đứt tay, trúng gió đến nỗi cấm
khẩu, không ăn uống được thì đâm nước cốt Cát căn với Trúc lịch đổ vào
thì tỉnh ngay, nếu không có tươi thì dùng khô với rượu cũng được. Các
chứng đậu sang, chẩn độc, khó mọc ra được dùng nó để phát ra cũng là
những phương thường được hay dùng (Biện dược chỉ nam).
. Cát căn khí vị đạm bạc, chất nhẹ, lỏng
lẻo không chắc chắn như các vị khác, nó sinh ra lúc mùa xuân, mọc dây
leo rất nhanh nên tính nó hay thăng phát ra những khí thanh dương tỳ Vị.
Theo bài luận về chứng thương hàn đều cho nó là Vị chủ về dược khí của
kinh Dương minh, bởi chính ở chỗ đó là chỗ biểu tà uất ở ngoài. Dương
khí của vị không thể tán ra để ban bố đi được, nên phải dùng nó nhờ tính
nhẹ nhàng để dâng lên, nó sẽ làm cho động nhẹ vào khí thanh dương để chế
ngực được ngoài hàn, đó là do sự biểu tà giải được thì vị dược được thư
thái mới phát ra được. Vì vậy mà Cát Căn Thang trong đó có Ma hoàng thì
lại càng rõ ràng chính nó lại là vị thuốc của Dương minh kinh, biểu tà
là chủ chốt ở đó chứ không phải nó chuyên giữ về chứng lý nhiệt của kinh
Dương minh đâu. Vị này Trương Trọng Cảnh đã có bàn về cách dùng Bạch Hổ
Thang chứ không phải là Cát Căn Thang hoàn toàn tuyệt đối. Cho nên mặc
dù nó hay thật nhưng phải dùng đúng trong trường hợp nào thì mới toàn
diện vậy (Bản Thảo Quát Yếu Thi).
+ Cát căn thứ nào cũng chỉ chữa ở một
kinh Dương minh. Đông Viên nói: Cát căn cổ vũ Vị khí, làm thánh dược
chữa chứng hư tả, phong dược phần nhiều là táo. Cát căn chuyên về chỉ
khát ở Vị, nó có tác dụng làm thăng đề Vị khí bị hạ hãm, đem lên tới phế
kim để sinh thủy vận. Ma hoàng là thuốc chữa bệnh ở kinh thái dương,
kiêm vào Phế kinh, Phế chủ da lông. Cát căn là thuốc chữa bệnh ở kinh
Dương minh, Tỳ chủ da thịt, tuy cùng có tác dụng phát tán nhưng hướng đi
vào của nó là khác nhau (Dược Phẩm Vậng Yếu).
. Cây còn cho lá gọi là Cát căn diệp trị
cầm máu do vết dao, đắp vào, hoặc gĩa nát tươi uống nước còn bã đắp nơi
chỗ rắn cắn. Cây còn cho dây bò dưới đất gọi là Cát căn man trị viêm
họng cấp tính, viêm thanh quản cấp tính, đốt cháy tán bột uống với nước.
Cho bã gọi là Cát căn xác hay Cát căn xác có vị ngọt, tính bình không
độc trị lỵ, giải độc rượu. Cho dây gọi là Cát căn đằng có tác dụng tiêu
sưng, trị nhọt lở, viêm họng thanh quản, sưng núm vú, trẻ con cấm khẩu
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cát căn dùng sống có tác dụng giải cơ
nhiệt, sinh tân dịch, dùng nướng thì kích thích Vị khí đi lên. Muốn hạ
sốt, nên dùng sống; Muốn cầm tiêu chảy, nên nướng lên (Đông Dược Học
Thiết Yếu).
+ Hoa Cát căn giải được say rượu. Nước
Cát căn sông giải được ôn độc (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Phân
biệt:
(1) Ngoài loài Sắn dây gọi là Phấn cát
vừa miêu tả ở trên ra, còn có 3 loài Sắn dây dưới đây, củ cũng giống để
làm thuốc.
a. Sắn dây để ăn (Pueraria edulis Pamp)
là cây dây leo. Lá dài hình đầu mũi tên, lá đơn không nứt khía, cuống
hoa và thân cây không có lông, lông trên cuống lá và quả rất ít. Có ở
các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
b. Sắn dây Nga mi (Pueraria ometensis
Tang et Wang) cây lá đơn hình trứng rộng lệch, đuôi lá hình tròn trứng
lộn ngược, rộng hay gần như hình tròn, gần cuống lá hình tròn không có
răng cưa, trên lá có lông cứng màu trắng và ngắn. Có ở Vân Nam, Tứ
xuyên (Trung Quốc).
c. Pueraria pseudo – hirsuta Tang et
Wang: Là loại cây dây leo, rễ củ to dài, sống nhiều năm. Thân có thể dài
trên 10m. Cả cây có lông thô màu nâu vàng. Củ rễ to dầy, nhiều bột. Lá
mọc cách có cuống dài, lá kép 3, cuống lá đơn đầu khá dài, phiến lá hình
tròn có cạnh ở gốc lá, có khi nứt thành 3 chẻ sóng, dài độ 20cm, rộng
7-22cm, đầu lá nhọn, gần cuống hình tròn, 2 mặt đều có lông mềm, ngắn,
màu trắng, mặt sau mọc dầy hơn, phần lá hai bên nhỏ hơn, hình bầu dục củ
ấu dẹt, dài 7-18cm, rộng 5-13cm, có lúc chẻ nông hình sóng 1-3. Hoa mọc
chùm, mọc ở nách lá, cuống chùm hoa có lông màu trắng vàng, hoa mọc dầy,
bao hoa hẹp, thường rụng sớm, bao hoa đơn hình kim, phình giữa, tràng
hoa hình bướm, màu tím lam hoặc tím, dài 17-10cm, đài có 5 cánh, cánh
đài hình kim phình giữa, bên trên 2 chiếc mọc chụm, bên dưới 1 hình dài,
cánh cờ gần như hình tròn hay hình tròn trứng, đuôi hơi lõm, có hai tai
ngắn, cánh hình bầu dục hẹp, ngắn hơn cánh cờ, thông thường chỉ một bên
có tai, có 10 nhị đực, vòi hoa cong bầu nhỏ, quả bế hình dài, dẹt dài
7-10cm, ngang 7-10mm, đuôi quả nhọn, có mọc lông cứng dài màu nâu vàng
hay đậm. Hạt hình trứng dẹt, vỏ màu nâu tươi, nhẵn bóng láng. Có hoa từ
tháng 4-8, quả 8-10. Hoa gọi là Cát căn hoa.
(2) Ngoài ra ở Trung Quốc còn có các loài
Sắn dây dưới đây: Sắn dây dai lông vàng (Pueraria calycyna Frach), sắn
dây Oa sư (P.Wallichii Dc), Sắn dây Vân Nam (P. Pedurcularis Grah) Sắn
dây giả 3 khía (P. Phaseeotoides Benth), Sắn dây hoa đẹp (P.Eùlegans
Wang Et Tang)...Cũng là loại cây thuộc giống Sắn dây, củ có thể làm dược
liệu dược hay không cần phải nghiên cứu thêm.
(3) Ở Việt Nam còn có dây sắn dây rừng (Pueraria
Montaba (Lour) Merr = P.Tonkinensis Gagnep) là cây bụi quấn, leo cao có
cành hình trụ về sau có rãnh. Lá kép lông chim 3 lá chét, lá chét hình
trái xoan rộng mép nguyên, gốc tròn, chóp nhọn sắc, mặt lá nhất là mặt
lá có lông màu hung. Cụm hoa ở nách, thành chùy dạng chùy hay không,
mang nhiều hoa. Cuống chung, có lông mềm hay lông lên màu vàng, lá bắc
và lá bắc con hình trái xoan nhọn, có vằn, giống nhau. Hoa màu tím không
cuốn. Đài có lông màu hung. Cánh có hình mắt chim có tai ngắn, cánh bên
rất hẹp, và có tai nhọn, cánh thìa ngắn hơn cánh bên nhưng rộng gấp đôi.
Nhị 1 bó. Bầu hơi có lông. Ra hoa từ tháng 4-5 tới 9. Mọc hoang ở nước
ta củ có thể làm dược liệu dược không, còn nghiên cứu (xem: Dã cát) (Danh
Từ Dược Học Đông Y).
Cát căn, Tác dụng
Cát căn, Cát căn vị thuốc quí, Cát căn và sức khỏe, cách dùng Cát căn, mua
Cát căn, nơi bán Cát căn, mua bán Cát căn, giá cả Cát căn, công năng Cát căn,
nơi mua catcan, catcan, tac dung cua catcan, catcan vi thuoc qui, catcan
và suc khoe, cach dung catcan, mua catcan, noi ban catcan, mua ban
catcan, gia ca catcan, cong nang catcan, nơi mua catcan, cat can, tac dung
cat can, baithuoc co cat can, cach dung cat can, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: 116B Đà nẵng Quận Ngô quyền - Hải phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP