Vị thuốc Cao lương khương
còn gọi Riềng ấm,
Riềng núi, Cao lương khương, Tiểu lương khương, Lương khương.Man khương
(Bản Thảo Cương Mục), Mai quang ô lược, Tỷ mục liên lý hoa (Hòa Hán Dược
Khảo), Tiểu lương khương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tác
dụng:
Ôn Vị, tán hàn, chỉ thống, tiêu thực,
dùng làm thuốc kiện Vị.
Chủ
trị:
Đau dạ dày, nôn mửa do Tỳ Vị hư hàn.
Liều
dùng:
Dùng từ 4-12 chỉ.
Kiêng
kỵ:
Mửa do nhiệt thịnh, vị hỏa. Hoắc loạn do
thương thử, ỉa chảy do hỏa nhiệt đau do tim hư cấm dùng.
Sơ
chế:
Đào thân rễ về rửa sạch cắt bỏ lá và rễ
con, cắt từng đoạn 4-6cm, phơi khô, (có khi đồ qua mới phơi khô). Khi
dùng ngâm mềm, xắt lát phơi khô dùng vào thuốc thang.
Cách
dùng:
Trong trường hợp tỳ hư mà sốt rét dùng
Cao lương khương sao với dầu mè (Châu thị tập nghiệm phương).
Bảo
quản:
Để nơi khô ráo, phơi nhẹđể khỏi mất tinh
dầu.
Đơn
thuốc kinh nghiệm:
+ Trị hoắc loạn, trên thổ dưới tả, đau
bụng do ác khí: Cao lương khương nướng cho thơm, mỗi lần dùng 150g, sắc
với 1 thăng rượu, chia làm 3-4 lần uống (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị hoắc loạn, nôn mửa không ngừng: Cao
lương khương sống 6g, gĩa nát, Đại táo 1 trái, sắc uống nguội (Băng Hồ
Thang - Phổ Tế Phương).
+ Trị Tâm Tỳ đau do hàn: Cao lương
khương 30g, gĩa nát, vắt lấy cốt, sắc với 3 chén nước lớn, còn 2 chén
rưỡi, bỏ bã, thêm vào 1 chén gạo nấu cháo ăn (Thánh Huệ Phương).
+ Trị Tâm Tỳ đau và các loại bị tổn
thương vì độc: Cao lương khương, Can khương 2 vị bằng nhau, ngâm, rửa,
tán bột, trộn với hồ bột miến, làm viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần
uống 50 viên với nước Quất bì, sau khi ăn. Có thai cấm uống (Hòa Tễ Cục
Phương).
+ Trị Tỳ Vị hư, hàn ngược, hàn nhiều
nhiệt ít, ăn uống kém: Cao lương khương sao với dầu mè, Gừng khô ngâm
nước rửa, mỗi thứ 30g, rồi tán bột. Mỗi lần lấy 15g, dùng mật heo trộn
thành viên hoàn, khi cần uống với rượu, mỗi lần 40 viên. Đại khái là hàn
phát ra ở Đởm, dùng mật heo để dẫn Can khương và Cao lương khương là Nhị
khương nhập vào Đởm để khử hàn mà táo Tỳ Vị. Một hàn một nhiệt, âm dương
tương chế do đó mà có hiệu quả. Có bài khác chỉ dùng Nhị khương (Can
khương, Cao lương khương) nửa sống nửa chín, sao đen, Xuyên sơn giáp
(sao đen) 9g, tán bột, mỗi lần dùng 6g nấu với thận heo, uống với rượu
(Chu Thị Tập Nghiệm Phương).
+ Trị phù khi có thai, trước đó do thương
hàn biến thành: Cao lương khương 9g, tẩm với nước mật heo một đêm rồi
sao đen với đất tường nhà, xong bỏ đất đi, lấy 15 trái táo nhục lớn, sấy
khô, tán bột, mỗi lần dùng 9g với nước nóng, khi nào rét do thương hàn
thì uống vào (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
+ Trị răng sưng đau: Lương khương 2 tấc
ta, Toàn yết sấy khô 4g, tán bột, xát vào, khi ra đờm dãi thì súc miệng
và ngậm bằng nước muối (Bách Nhất Tuyển Phương).
+ Trị nhức đầu: Cao lương khương sống,
tán nhuyễn, thổi vào trong lỗ mũi nhiều lần cho hắt hơi (Phổ Tế
Phương).
+ Trị dạ dày đau do hàn: Cao lương khương,
Hương phụ, các vị bằng nhau tán bột, thêm nước Gừng, Muối làm thành viên,
mỗi lần uống 3-6g, ngày 2-3 lần, uống với nước (Lương Phụ Hoàn - Lương
Phương Tập Dịch).
+ Trị đau nhức do loét dạ dày hay tá
tràng, Cao lương khương 9g, Ngũ linh chi 6g, tán bột, uống với nước
đồng tiện và rượu - Cấm dùng trong trường hợp xuất huyết tương đối nặng
(Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị đau quặn ngực bụng do cảm hàn: Cao
lương khương 6g, Hậu phác, Sinh khương, Đương quy đều 9g, Quế tâm 4,5g,
sắc uống (Cao Lương Khương Thang - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị nôn mửa do Vị hàn: Cao lương khương
9g, sao qua, tán bột uống với nước (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).
+ Trị nôn mửa do hư hàn: Lương khương,
Phục linh, Đảng sâm đều 9g, sắc uống (Sổ Tay Trung Dược Lâm Sàng).
Tham
khảo:
+ Cao lương khương trừ hàn thấp, ôn Tỳ
Vị. Đối với người cao tuổi Tỳ Thận hư hàn, tiêu chảy, kiết lỵ, tâm vị
bạo thống, do khí nộ, do hàn đờm, dùng Cao lương khương tính vị thuần
dương, cay nóng để trị các chứng hàn lạnh kinh niên, tác dụng giống như
Quế, Phụ. Nếu hàn tà phạm Vị gây ra nôn mửa, thương thực do ăn chất sống
lạnh sinh hoắc loạn thổ tả, phải dùng nhiều… Nếu trị Tỳ Vị hư hàn, cần
phối hợp với Sâm, Kỳ, Bán hạ, Bạch truật là tốt. Nếu dùng độc vị mà dùng
nhiều, thuốc có tính cay nóng, tẩu tán sẽ làm hao tổn trung khí" (Bản
Thảo Hội Ngôn).
+ Can khương, Lương khương, Sinh khương,
đều có tác dụng ôn trung khử hàn. Nhưng Can khương chuyên về ôn Tỳ, chỉ
tả, Lương khương chuyên về ôn trung, chỉ thống, còn Sinh khương chuyên
về ôn vị chỉ ẩu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Can khương đại nhiệt, thiên về hoá hàn
tà ở Tỳ, trị tiêu chảy do Tỳ hàn. Sinh khương cay nhiều hơn ôn, thiên về
đi lên và đi ra phần biểu để khử hàn tà ở ngoài, chống nôn mửa. Cao
lương khương thì ôn nhiều hơn cay, giỏi công ở bên trong, đi vào phần lý,
thiên về tán hàn ở Vị, chỉ thống (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Cao lương khương và Can khương đều có
vị cay, tính ấm, đều là thuốc chủ yếu để ôn tán hàn tà ở trung tiêu. Cao
lương khương thiên về trị hàn ở Vị. Cao lương khương khác với Sinh
khương ở chỗ Cao lương khương ôn nhiều hơn tân, thiên về tẩu ở phần lý,
tán hàn ở Vị, chỉ thống. Sinh khương tân nặng hơn ôn, thiên về tẩu ở
phần biểu, tân tán phong hàn mà hoà Vị khí để chỉ ẩu (Thực Dụng Trung Y
Học).
Hiểu thêm về Cao lương
khương
Tên
khoa học:
Alpinia offcinarum Hace. Họ Zingberaceae.
Mô
tả:
Cây thảo cao cỡ 1-2m. Thân rễ mọc bò
ngang, dài hình trụ, đường kính tới 2 cm, màu đỏ nâu, phủ nhiều vẩy,
chia thành nhiều đốt không đều nhau, màu trắng nhạt. Lá không cuống,
sáng bóng, hình mũi mác hẹp, hai đầu nhọn, dài tới 40cm rộng tới hơn
2cm, bẹ lá dạng vẩy, lưỡi bẹ dạng vảy nhọn. Cụm hoa hình chùy, mọc ở
ngọn, thẳng có lông mềm, dài chừng 10cm. Hoa mọc sít nhau, có lá bắc nhỏ,
đính trên những gờ nổi ngắn. Đài hình ống, có lông, chia 3 răng ngắn.
Tràng có ống ngắn có lông cả hai mặt, có 3 thùy tù, lõm, thùy lưng lớn
hơn. Bao phấn hình chữ nhật, nhẵn. Nhị lép hình dùi ngắn và tù. Cánh môi
trắng có rạch màu đỏ rượu vang, hình trái soan. Bầu có lông. Nhụy lép 2,
hình bản dày, gần như vuông. Quả hình cầu, có lông. Cây có hoa từ tháng
11 đầu tháng 1.
Phân
biệt:
(1) Cần phân biệt với Cây Riềng Tàu,
Lương khương (Aipinia chinensis Rosc), là cây thảo cao cỡ 1m, thân rễ
màu xám vàng, thơm. Lá mọc 2 hàng, hình trái xoan, mũi mác, nhẵn cả hai
mặt, dài tới 30cm, rộng 6cm, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ lõm có hai thùy ngắn, tròn,
cuống lá ngắn. Chùy hoa ở ngọn mảnh, nhẵn, có các nhánh cách xa nhau,
mang nhiều hoa, lá bắc dễ rụng hoặc không có, lá bắc con màu trắng bao
lấy đài hoa, cuống hoa nhẵn hình sợi, hoa màu trắng. Đài hình ống, nhẵn
có 3 răng. Tràng có ống thụt vào mang các thùy thuôn, lõm. Bao phấn hình
bầu dục, chỉ nhị dài gấp 3 lần, cánh môi hình bầu dục, nhị lép hình dùi.
Bầu hình bầu dục, nhẵn, nhụy kép hình bản dày, thuôn, khía tai bèo ở
ngọn. Quả mọng khô hình cầu, to bằng hạt đậu Hà Lan, chứa 4 hạt. Có hoa
vào mùa hạ. Cây mọc hoang ở một số nơi trong nước ta. Củ dùng làm thuốc
giúp sự tuần hoàn máu.
(2) Có khi dùng cây Riềng nếp, Đại cao
lương khương (Alpinia galanha Swarts) to cao hơn cây Riềng ấm, thân rễ
màu hồng, ít thơm, nhưng không tốt bằng loại trên. Cây mọc hoang ở miền
núi và được trồng khắp nơi trong nước ta. Cây được trồng bằng thân rễ
vào mùa đông xuân. Mùa hoa quả tháng 5-9, dùng thân rễ thu hái vào mùa
đông xuân rồi phơi khô làm thuốc kích thích tiêu hóa, đầy bụng, đau họng,
tiêu lỏng. Dùng từ 2-3 chỉ sắc hoặc tán bột uống tươi, có thể gĩa nhỏ
ngâm nước muối và dịch chân. Phơi khô dùng chữa ho, khát nước (Xem: Cao
lương khương tử).Có khi trồng hoặc mọc hoang khắp nơi trong nước Việt
Nam.
Thu
hái:
Chọn thân rễ (củ) vào giữa tháng 2-3,
phơi khô có thể thu hái quanh năm.
Phần
dùng làm thuốc:
Thân rễ.
Mô
tả dược liệu:
Thân rễ riềng núi hình viên chùy, tẻ
nhánh thô, khoảng 9-15mm. vỏ ngoài màu nâu đỏ, có vòng ngang hình dợn
sóng, hình thành bởi lá thoái hóa, vùng đỉnh thường có vết thân, mặt
hông và mặt bụng có vết rễ ít, chất cứng bền khó gãy, mặt cắt màu vàng
đỏ, chất xơ, hơi có mùi thơm đặc biệt. Loại có mùi thơm nhẹ, không xốp.
Từng đoạn khô, gìa màu vàng nâu, không mốc một là tốt.
Bào
chế:
Khi dùng Cao lương khương nên sao qua,
cũng có khi dùng với Gừng, Ngô thù du, đất vách hướng đông sao qua (Bản
Thảo Cương Mục).
Thành
phần hoá học:
+ Trong rễ có 0,5-1,5% tinh dầu. Thành
phần có Methyl Cinnamate, Eugenol, Pinene, Cadimene, Galangin,
Kaempfende, Kaempferol, Quercetin, Isorhamnetin, Galangol (Trung Dược
Học).
+ Có tinh dầu mà thành phần chủ yếu là
Cineol và Methylxinamta. Ngoài ra còn có một chất dầu vị cay là Galangol,
3 chất kết tinh, đều là dẫn chất của Flavonoid: Galangin, Anpinin và
Kamferit (Dược Liệu Việt Nam).
Tác
dụng dược lý:
+ Tác dụng kháng khuẩn:: nước sắc Cao
lương khương in vỉto có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như trực
khuẩn bạch hầu, liên cầu khuẩn dung huyết, Anthrax bacillus, song cầu
khuẩn viêm phổi, tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lao (Trung
Dược Học).
+ Nước sắc Cao lương khương có tác dụng
hưng phấn ruột cô lập của súc vật thí nghiệm, nồng độ cao lại có tác
dụng ức chế. Dầu thơm Lương khương có tác dụng kiện Vị (Trung Dược Học).
Cao lương khương, Tác dụng
Cao lương khương, Cao lương khương vị thuốc quí, Cao lương khương và sức khỏe, cách dùng Cao lương khương, mua
Cao lương khương, nơi bán Cao lương khương, mua bán Cao lương khương, giá cả Cao lương khương, công năng Cao lương khương,
nơi mua cao luong khuong, cao luong khuong, tac dung cua cao luong khuong, cao luong khuong vi thuoc qui, cao luong khuong
và suc khoe, cach dung cao luong khuong, mua cao luong khuong, noi ban cao luong khuong, mua ban
cao luong khuong, gia ca cao luong khuong, cong nang cao luong khuong, nơi mua cao luong khuong, caoluongkhuong, tac dung
caoluongkhuong, baithuoc co caoluongkhuong, cach dung caoluongkhuong, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP