Cam hay Cam chanh - Citrus sinensis
(L.) Osheck (C. aurantium L. var. dulcis L.), thuộc họ Cam -
Rutaceae.
Mô tả: Cây gỗ nhỏ có dáng khoẻ, đều;
thân không gai hay có ít gai. Lá mọc so le, phiến lá dài,
màu xanh đậm, hình trái xoan, dài 5-10cm, rộng 2,5-5cm, mép
có răng thưa; cuống hơi có cánh, rộng 4-10mm. Chùm hoa ngắn
ở nách lá, đơn độc hay nhóm 2-6 hoa thành chùm; đài hoa hình
chén, không lông; cánh hoa trắng dài 1,5-2cm; nhị 20-30 cái
dính nhau thành 4-5 bó. Quả gần hình cầu, đường kính 5--8cm,
màu vàng da cam tới đỏ da cam; vỏ quả dày 3-5mm, khó bóc;
cơm quả quanh hạt vàng, vị ngọt; hạt có màu trắng.
Cây ra hoa quanh năm, thường có hoa
vào tháng 1-2, có quả vào tháng 10-12.
Bộ phận dùng: Quả, kể cả dịch quả và
vỏ quả; hoa - Fructus et Flos Citri Sinensis. Lá và vỏ cây
cũng được dùng. Ở Trung Quốc, người ta dùng quả chưa chín
của Cam chanh cũng như quả xanh của cây Toan chanh - Citrus
aurantium L., làm thuốc gọi là Chỉ thực - Fructus Aurantii
Immaturus.
Nơi sống và thu hái: Cây của Á châu
nhiệt đới được trồng rộng rãi khắp nước ta để lấy quả ăn.
Người ta đã tạo được những giống lai giữa cam và quýt, cam
và bưởi. Các tác giả Bách khoa Nông nghiệp cho biết ở nước
ta có những giống cam nổi tiếng.
- Cam Xã Đoài: Cây tương đối cao, ít
cành lá (cành quả). Quả ngon, thơm, trồng ở Xã Đoài, xã Nghi
Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An rồi lan ra cả vùng đất
nhẹ huyện Nghi Lộc.
- Cam ở miền Nam: Vỏ nhiều khi vẫn
xanh, cây rải vụ (vụ thu hoạch kéo dài).
- Cam Động đình: Cây to, lá xanh nhạt,
tai lá to; quả to, màu đỏ tía, nhiều nước, hơi chua, dễ
trồng, có sức chống chịu, là giống lai giữa Cam và Bưởi.
Hiện trồng ở tỉnh Hải Hưng.
- Cam đường: Gần với Quýt hơn Cam. Cây
cao 2-3m, tán rộng, nhiều cành lá, lá không có tai. Quả
trung bình 100g, vỏ mỏng, màu vàng đỏ hay đỏ sẫm, dễ bóc,
múi dễ chia. Có ba loại hình chính là Cam giấy với các giống
Cam Canh (Hà Nội), Cam Đồng dụ (Hải Phòng), Cam Ngọc cục và
Cam Hành Thiện (Nam Hà); Cam Bù, Cam Chua, dễ trồng sai quả,
vị hơi chua, phổ biến ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng
Bình); Cam voi, quả to 300-350g lai giữa Cam bù và Bưởi,
trồng ở Tuyên hoá (Quảng Bình).
- Cam sành: Cây cao 2-3m, phân cành
thấp, lá có tai nhỏ, quả sần sùi, vỏ dày, khi chín màu vàng
hay đỏ sẫm, vỏ dễ bóc, ruột đỏ, vị ngọt, hơi chua. Giống phổ
biến là Cam Bố Hạ, trồng ở vùng bãi phù sa Hà Bắc trên đất
thoát nước; quả dẹt, nặng trung bình 200-250g, màu vàng đỏ
đẹp, chín vào tháng 11-12-1 năm sau, dịp Tết Nguyên đán, Cam
sành có tên là Citrus nobilis Lour. với quả có vỏ sần sùi
mịn, khi chín màu vàng đỏ, tuy dày nhưng dễ bóc, hột có màu
nâu lục. Quýt trước đây vẫn được xem là một thứ trong Cam
sành.
Còn những loại Cam gần với Chanh có vỏ
mỏng hơn nhưng khó bóc, khi chín màu vàng. Ở nước ta có Cam
gần như quanh năm nên có thể dùng quả tươi. Người ta cũng
thường thu hái quả non rụng ở gốc cây làm chỉ thực.
Thành phần hóa học: Trong Cam tươi có
nước 87,5%, protid 0,9%, glucid 8,4%, acid hữu cơ 1,3%,
cellulose 1,6%, calcium 34mg%, sắt 23mg%, caroten 0,4mg%,
vitamin C 40mg%. Quả là nguồn vitamin C, có thể tới 150mg
trong 100g dịch, hoặc 200-300 mg trong 100g vỏ khô.
Trong lá và vỏ quả xanh có l-stachydrin,
hesperdin, aurantin, acid aurantinic, tinh dầu Cam rụng (petitgrain).
Hoa chứa tinh dầu Cam (neroli) có limonen, linalol, geraniol.
Vỏ quả chứa tinh dầu mà thành phần chính là d-limonen (90%),
decyclicaldehyd tạo nên mùi thơm, các alcol như linalool,
dl-terpineol, alcol nonylic, còn có acid butyric,
authranilat metyl và este caprylic.
Tính vị, tác dụng: Quả Cam có vị ngọt
chua, tính mát; có tác dụng giải khát, sinh tâm dịch, mát
phổi, tiêu đờm, thanh nhiệt và lợi tiểu. Vỏ quả Cam có vị
cay, mùi thơm, tính ẩm, có tác dụng tiêu đờm, thông khí trệ,
giúp tiêu hoá. Vỏ cây Cam vị ngọt, hơi the, tính mát; có tác
dụng hạ khí đầy, điều hoà tỳ vị. Ở Ấn Độ, quả được xem như
có tác dụng khử lọc, và vỏ có tác dụng trung tiện và bổ.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả
Cam đường dùng để ăn có nhiều tác dụng; lại được dùng làm
thuốc giải nhiệt trị sốt, điều trị chứng xuất tiết và giúp
ăn ngon miệng. Ở Ấn Độ, dịch quả cũng được dùng trong bệnh
đau về mật và ỉa chảy ra máu. Vỏ quả Cam có thể dùng thay vỏ
quýt nhưng tác dụng kém hơn, làm thuốc kích thích tiêu hoá,
chữa đau bụng, đầy bụng, ợ chua, đi ngoài. Ta còn dùng vỏ
Cam chữa bệnh sau khi đẻ bị phù. Vỏ tươi dùng xát vào mặt
làm thuốc điều trị mụn trứng cá. Lá Cam dùng chữa tai chảy
nước vàng hay máu mủ. Hoa Cam thường dùng cất tinh dầu và
nước cất hoa Cam dùng pha chế thuốc. Chỉ ăn toàn Cam trong
ba ngày liền có tác dụng như uống một liều thuốc tẩy độc rất
tốt. Uống nước vỏ Cam nấu chín có tác dụng kích thích nội
tiết nước mật, làm tăng nhu động ruột, chống bệnh táo bón.
Đơn thuốc:
1. Sau khi đẻ bị phù: Dùng 20g vỏ cây
Cam sắc uống hoặc phối hợp với vỏ Bưởi và vỏ Chân chim, mỗi
vị 12g, cùng sắc.
2. Tai chảy mủ: Dùng 7 lá Cam non giã
với ít nước, vắt lấy nước cốt nhỏ vào tai, để một chốc rồi
quấn bông chùi sạch, làm mỗi ngày vài lần sẽ khỏi (Lê Trần
Đức).
Cam, vị thuốc Cam, Tác dụng của Cam, thành phần của Cam, cách dùng Cam, liều dùng Cam, công dụng Cam, Tác dụng Cam, cách sử dụng Cam, Cam và sức khỏe, Nơi mua Cam, mua bán Cam, giá mua Cam, cây Cam, thuốc Cam, quả Cam, lá Cam, rễ Cam, hoa Cam, Cam chữa bệnh, Cam chữa bệnh gì?
cam, tac dung cam, thanh phan cam, cach dung cam, cong dung cam, cam va suc khoe, noi mua cam, mua ban cam, gia mua cam, vi thuoc cam, cay cam, thuoc cam, quả cam, lá cam, rễ cam, hoa cam, cam chua benh, cam chua benh gi?
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng khám đông y
Nguyễn Hữu Toàn : số 482 lô 22C Đường lê
Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại: 84.031.3722083. GP : 197GCN HNY SYTHP