Hổ còn gọi là Hùm, Cọp, Kễnh, Ông ba mươi,
có tên khoa học là Panthera Tigris thuộc họ Felidae. Hổ quê ở phương Bắc,
di cư dần xuống phía Nam theo hai đường, đường Tây nam châu Á, cạnh cao
nguyên Tây Tạng và đường Trung Quốc qua Miến Điện, Đông Dương, tới
Inđônêxia, chiều dài cơ thể 180-280cm, đuôi 90cm, nặng có thể tới 272kg,
sống ở rừng sâu bụi rậm, đồng cỏ tranh nghĩa là những nơi có nhiều mồi
ăn, nước và chỗ tránh nắng. Hổ ăn thịt nhiều loại thú: bò tót, trâu rừng,
gấu, hươu nai, lợn rừng, sơn dương, báo. Mùa nước lên Hổ ăn cả rùa, lúc
đói Hổ không từ cả ếch, nhái, cào cào. Hổ bắt mồi bằng cách cắn cổ hay
gáy, và nếu mồi khỏe có thể cắn mông, đùi sau. Thường Hổ ăn mồi từ mông...lôi
gan ruột ra ngoài và thường đợi thịt mồi thối rồi mới ăn. Hổ có bộ lông
vàng đẹp có nhiều vằn đen, có mấy thứ tiếng kêu. Khi động đực, Hổ gầm
lên, tiếng gầm vang rất xa, có ý nghĩa gọi bạn đến để giao hợp. Có khi
kêu (póc) như nai để dụ mồi lại gần. Khi giật mình kêu húp khi giận kêu
(hừ hừ) hay há miệng nhe nanh “khạc” gió. Trong mùa sinh dục cuối mùa
đông hay đầu mùa xuân, hổ ghép đôi, và lúc này tính Hổ cũng dữ tợn hơn
lúc bình thường. Thời gian chửa khoảng 3 tháng rưỡi. Mỗi lứa đẻ từ 2 -4
con (đôi khi tới 5-6 con). Hai ba năm đẻ một lứa. Hổ con sau 2 tháng có
thể theo mẹ để kiếm ăn và sống với mẹ tới 1,5-2 tuổi. Hổ trưởng thành
khoảng 3-4 tuổi. Hổ sống khoảng 30 năm. Có lẽ vì thế mà có tên là “ông
ba mươi”? Hổ là loài thú rừng dữ tợn, người ta gọi nó là chúa sơn lâm
cũng không quá. Hổ rất bạo tấn công cả những con thú cao hơn nó như Voi,
Bò tót, Trâu rừng... Hổ rất khỏe có thể tha con mồi nặng hơn nó nhiều
lần. Hổ có thể trèo cây dễ dàng như mèo, có khi leo được cả cây cao
5-6m. Hổ cũng lội nước được và có lúc bơi xa tới 4-5km. Cũng như nhiều
loài ăn thịt khác, Hổ có tập quán cọ vuốt vào các vật cứng để vuốt luôn
sắc. Mặc dù bạo tàn như vậy nhưng cũng như tất cả các loài thú rừng ăn
đêm, một tiếng động bất thường nào trong đêm tối, cũng làm Hổ nghi ngờ
sợ hãi, cho nên người đi rừng thường dùng hai thanh nứa đập vào nhau
cũng đủ xua đuổi Hổ chạy. Hổ là một đặc sản động vật chủ yếu của châu Á.
Da Hổ đẹp, trị giá cao trên thị trường.
Phân
biệt:
Cần phân biệt với Beo, Báo (Felis
Temmincki), Báo gấm (Neofelis Nebusa), Báo hoa mai (Panthera Pardus) (Xem:
Báo).
Thu
bắt:
Hổ cốt
Săn Hổ bằng cách bẫy bắt sống hay dùng
tên độc, súng săn. Có thể săn bắt quanh năm.
Tính vị: Vị cay, Tính hơi ấm.
Quy kinh: Vào 2 kinh Can, Thận.
Bảo quản: Để nơi khô ráo.
Tham
khảo:
. Xương cọp làm gối đầu thì nằm ngủ yên
không chiêm bao thấy những sự ghê sợ, hoặc treo lên giữa cửa đi vào trừ
được ma quỷ (Bản Thảo Tập Chú).
. Xương cọp chữa được chứng gân xương bị
co rút không cử động được, lại chữa được thương hàn, cơn sốt rét, đau
bụng và chó cắn (Dược Tính Bản Thảo).
. Lấy xương cọp nấu nước tắm, người lớn
thì trừ được phong đau các khớp xương và sưng thũng, trẻ con thì trừ
được các loại phong đau nhức khớp, ác sang, ghẻ lở, động kinh, sau lớn
lên không bệnh tật (Thực Liệu Bản Thảo).
. Cọp sở dĩ khỏe là nhờ xương ống chân
của nó. Xem như lúc đó đã chết mà vẫn đứng trơ trơ không ngã, cho nên
mới chữa được chứng mỏi gối chùn chân (Bản Thảo Hội Biên).
+ Sách Nhĩ nhã nói rằng: Thứ hổ lông
trắng gọi là ‘Sạn miêu’, thứ trắng gọi là ‘Hàm’ thứ đen gọi là ‘Dục’,
thứ có 5 móng chân gọi là ‘Khâu), thứ như Hổ mà không phải gọi là ‘Bưu’
và Hổ có sừng gọi là ‘Tê’ (Bản Thảo Cương Mục).
+ Ngoài ra Hổ còn cho các vị sau để làm
thuốc:
a) ‘Hổ Cốt Tửu’ (Rượu hổ cốt, người ta
chế bằng cách lấy một bộ ống chân Hổ sao vàng gĩa nhỏ, rắc men ủ thành
Rượu, hoặc ho vào cái bao bằng vải rồi dầm. Để chữa đau trong uống chân,
nhức khớp xương, thận kém, bàng quang hàn.
b) Hổ nhục (Thịt hổ), có vị chua, khí
bình, không độc. Trị buồn nôn, hay nhổ nước miếng, tăng sức. Đời Đường
trong ‘Thực Liệu Bản Thảo’ Mạnh Sằn ghi rằng ăn thịt Hổ chữa được cơn
sốt rét và trừ các khí. Còn Đào Hoằng Cảnh lại cho rằng ăn thịt hổ không
nên ăn nóng vì sợ rụng răng.
c) “Hổ đỗ” (Dạ dày hổ), lấy dạ dày tươi,
còn nguyên cả đồ ăn, để lên trên tấm ngói mới sao cháy tán bột. Chữa
chứng ăn vào nôn ra. Lấy bột dạ dày hổ 1 cái trộn với ‘Bình Vị Tán’ 1
lượng, mỗi lần uống 3 chỉ với nước nóng.
d) ‘Hổ thỉ’ (Phân hổ), lấy phân hổ đốt
cháy tán bột, uống với rượu chữa chứng ghẻ lở. Đời Minh sách Bản Thảo
Cương Mục’ Lý Thời Trân nói rằng phân hổ chữa nhọt độc, trĩ, hóc xương
các loài thú.
đ) “Hổ chi” (Mỡ hổ) dầm với rượu nóng
uống chữa được thương tích do đập đánh, chấn thương. Mỡ hổ trộn với Dầu
mè, rượu nóng uống chữa được chứng ăn vào mửa ra.
e) “Hổ thận” (Thận hổ), ăn quả Thận hổ
thái mỏng bóp dấm thanh và Gừng chữa được loa lịch (lao hạch cổ).
g) “Hổ tình” (Tròng mắt hổ). Sách Lôi
Công ghi rằng, dùng mắt Hổ phải hỏi cho biết con đực hay con cái, gìa
hay trẻ, và đâm chết hay bắn chết, nếu bị bắn thuốc độc thì không dùng.
Khi dùng phải trộn với huyết dê một đêm, sáng ngày vớt ra, rồi đun lửa
vừa vừa sao khô, tán bột. Lý Thời Trân nói rằng, bài thuốc trong Thiên
Kim chữa chứng điên có dùng ‘Hổ Tình Thang’ và ‘Hồ Tình Hoàn’, đều ngâm
Rượu, sao khô, ủ, Đời Đường sách ‘Thực Liệu Bản Thảo’ của Mạnh Sằn cho
rằng mắt hổ chữa được cơn sốt rét và trẻ con phát sốt kinh sợ. Đời Tống,
sách ‘Bản Thảo Nhật Hoa’ cho rằng mắt hổ chữa các chứng bệnh trẻ con như
cam, giật mình khóc vì khách lạ, khóc dạ đề, an thần, định chí. Đời Minh,
sách ‘Bản Thảo Cương Mục’ Lý Thời Trân cho rằng lòng mắt hổ chữa đau mắt
có mây và làm cho mắt sáng thêm.
h) ‘Hổ cao’ (Cao mỡ hổ), lấy mỡ hổ cô lửa
cho đặc như cao, chữa chó cắn bị lở ra, Đời Đường sách ‘Thực Liệu Bản
Thảo’ Mạnh Sằn ghi rằng cao mỡ hổ bôi vào hậu môn chữa các chứng trĩ và
đi cầu ra máu. Đời Minh sách ‘Bản Thảo Cương Mục’ Lý Thời Trân nói cao
mỡ Hổ chữa được chứng ăn vào mửa ra, trẻ con lở đầu, xùi vẩy trắng. Ăn
vào mửa ra thì uống trong, lở loét thì lấy mỡ chiên lên rồi bôi.
i) ‘Hổ tỵ’ (Mũi hổ), mũi hổ chữa chứng
điên và trẻ con bị động kinh, Đời Nam Bắc triều, Đào Hoằng Cảnh nói, mũi
Hổ treo lên ở cửa ra vào thì sinh quý tử.
j) ‘Hổ đởm’ (Mật hổ), mật Hổ chữa bị đánh
trọng thương, gần chết không ăn uống gì được, huyết ứ lại, đại tiểu tiện
bí, nguy hiểm. Cách chế là bóc lớp da ngoài, nghiền nhỏ ngâm vào dấm
thanh, hòa bột Phục linh uống với Rượu, Mật hổ cũng chữa được các chứng
cam, kiết lỵ, kinh giản trẻ con, uống với nước sôi nguội.
k) ‘Hổ tu’ (Râu hổ), chữa đau sâu răng,
dùng râu Hổ xỉa răng là khỏi.
l) ‘Hổ trảo’ (Vuốt hổ), vuốt và lông ngón
chân hổ đều dùng được, nhưng dùng thứ của con đực thì mới hay, kinh
nghiệm dân gian thường lấy vuốt và lông bịt bạc cho trẻ con đeo trừ được
tà khí. Sách ‘Ngoại Đài Bí Yếu’ cho rằng vuốt hổ tránh quỷ mị. Lấy vuốt
Hổ, Giải trảo(chân con cua) Xích hùng hoàng, 3 vị đều tán bột hòa với
nhựa thông làm thành viên, vào ngày mùng 1 đầu năm đốt lấy khói như
hương, quanh năm có thể trừ được tà khí ác độc.
m) ‘Hổ nha’ (Răng hổ) mài lấy nước bôi,
chữa đàn ông lở ở hai bẹn, mụn nhọt có lỗ hõm vào. Đời Minh, sách ‘Bản
Thảo Cương Mục’ của Lý Thời Trân ghi rằng, răng Hổ cạo lấy bột hòa với
Rượu uống chữa chó dại cắn và trừ lao trùng.
n) ‘Hổ bì, Cao tỳ’ (Da hổ) da Hổ chữa cơn
sốt rét, ‘Bản Thảo Cương Mục’, Lý Thời Trân nói rằng: Da Hổ trừ được tà
khí, da đốt thành than tán bột. Nhưng phải cẩn thận chú ý làm cho hết
lông.
7) Hổ là chúa của các loại thú rừng ở
phía tây, cho nên thông với khí của hành kim, phong theo Hổ, Hổ gầm mà
sinh phong, phong thuộc hành mộc, Hổ thuộc hành kim. Mộc bị kim chế làm
sao mà chẳng theo, cho nên có thể vào tận trong xương mà đuổi phong,
khỏe gân mạnh xương, nhưng Hổ khỏe dữ lắm chỉ nhờ ống chân trước, vì khi
nó chết mà chân vẫn thẳng không ngã, cho nên xương ống chân mạnh gấp
trăm lần so với xương ở nơi khác, mượn khí hữu dư của nó để bổ cho các
chứng bệnh bất túc, vị cay hơn nóng đã ẩm thụ khí dữ tợn, lại có công
năng tân tán cho nên dùng để đuổi tà trừ ác, kinh giản, bệnh điên, và
chạy từ gân suốt tới xương nếu đau ở eo lưng và lưng thì nên dùng xương
sống (Dược Phẩm Vậng Yếu).
Hổ cốt, Tác dụng
Hổ cốt, Hổ cốt vị thuốc quí, Hổ cốt và sức khỏe, cách dùng Hổ cốt, mua
Hổ cốt, nơi bán Hổ cốt, mua bán Hổ cốt, giá cả Hổ cốt, công năng Hổ cốt,
nơi mua hocot, hocot, tac dung cua hocot, hocot vi thuoc qui, hocot
và suc khoe, cach dung hocot, mua hocot, noi ban hocot, mua ban
hocot, gia ca hocot, cong nang hocot, nơi mua hocot, ho cot, tac dung
ho cot, baithuoc co ho cot, cach dung ho cot, phòng khám, đông y,
thuốc, chữa, bệnh, viêm, đau, đông y, thuốc chữa, chữa bệnh,
Nguyễn hữu Toàn, thầy thuốc của bạn, thay thuoc cua ban,
thaythuoccuaban, phong kham, dong y, thuoc, chua,
Thông
tin trên Website :
www.thaythuoccuaban.com chỉ có
tính chất tham khảo. Người xem không được dựa vào để tự chữa bệnh.
Phòng
khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
: Số 481 - 482 Lô
22 Lê Hồng Phong - Hải Phòng. Điện thoại:
84.031.3852577. GP : 197GCN HNY SYTHP