Bụp giấm - Hibiscus sabdariffa L.,
thuộc họ Bông - Malvaceae.
Mô tả: Cây sống một năm, cao 1,5-2m,
phân nhánh gần gốc, bóng, màu tím nhạt... Lá hình trứng,
nguyên, mép lá có răng. Hoa đơn độc, mọc ở nách, gần như
không cuống. Tiểu dài 8-12, hình sợi, phần dưới hợp, có lông
nhỏ. Đài hợp, có lông nhỏ, phiến nhọn đều, nửa dưới màu tím
nhạt. Tràng màu vàng, hồng hay tía, có khi trắng. Quả nang,
hình trứng, có lông thô, mang đài màu đỏ sáng tồn tại, bao
quanh quả.
Ra hoa từ tháng 7 đến tháng 10.
Bộ phận dùng: Lá, hạt, đài hoa -
Folium, Semen et Calyx Hibisci.
Nơi sống và thu hái: Gốc ở Tây Phi,
được trồng để lấy đọt, và đài hoa dùng làm rau chua. Đài hoa
phơi khô bảo quản được lâu; sau khi ngâm nước, lại trở lại
trạng thái tươi.
Thành phần hoá học: Các lá đài giàu về
acid và protein; các acid chính tan trong nước là acid
citric, acid malic, acid tartric và acid hibiscus. Chúng
cũng chứa gossypetin và chlorid hibiscin, chất sau này có
tính kháng sinh. Hoa chứa một chất màu vàng là flavonol
glucosid hibiscitrin; hibiscetin; gossypitrin và sabdartrin.
Quả khô chứa oxalat Ca, gossypetin, anthocyanin (có tác dụng
kháng sinh) và vitamin C.
Tính vị, tác dụng: Nước hãm đài hoa
chứa nhiều acid hữu cơ có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, lọc
máu, giảm áp suất mạch và kích thích nhu động ruột, lại có
tác dụng kháng khuẩn và nhuận tràng. Lá cũng có tác dụng lợi
tiểu, an thần và làm mát. Quả chống scorbut...
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá có
vị chua chua, dùng làm rau ăn. Người ta thường dùng đài hoa
có vị chua làm gia vị thay giấm, dùng chế nước giải khát,
làm mứt. Có nơi dùng chế xi rô, hoặc đem phơi khô và nấu lên
lấy nước uống. Lá dùng như chất thơm và cùng với đài hoa và
quả dùng trị bệnh scorbut. Đài hoa mọng nước sắc lấy nước
uống hay hãm uống giúp tiêu hoá và trị các bệnh về mật; cũng
dùng trị bệnh về tim và thần kinh, huyết áp cao và xơ cứng
động mạch.